- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Diều V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 24-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Kiên Hiển
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 và điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Chí Hòa (T30) – Công an Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
HUỲNH DIỀU V, sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: HKTT: Số 1/1/10 Đường C, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm công nghệ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Cẩm S và bà Nguyễn Thu T; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2022
(Bị cáo có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: 122A Đường A, phường T, Quận 7, TP.HCM
2. Ông Huỳnh Cẩm S, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 1/1/10 Đường C, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 24/5/2022, tổ tuần tra 363 thuộc Công an Quận 3 đang tuần tra phòng chống tội phạm trên địa bàn Quận 3 đến trước số nhà 41 Cao Thắng, Phường 2, Quận 3 thì phát hiện bị cáo Huỳnh Diều V điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 51K6-3381 chở Nguyễn Văn H có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên phải của bị cáo V có bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong bao thuốc có 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, bị cáo V khai là ma túy nên tổ tuần tra đã đưa cả hai về Công an Phường 2, Quận 3 lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, bị cáo Huỳnh Diều V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Tang vật thu trong túi quần phía trước bên phải là ma túy, bị cáo mua của một người đàn ông tên Lộc (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng vào ngày 23/5/2022. Khi bị cáo V chở H đi công việc, V không nói cho H biết việc V cất giữ ma túy trong người.
Tại bản kết luận giám định số 3008/KLGĐ ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3187g (hai phẩy ba một tám bảy gam) là Methamphetamine”.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Huỳnh Diều V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Huỳnh Diều V có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H; ông Huỳnh Cẩm S vắng mặt tại phiên tòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Diều V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 24/5/2022, tại trước số nhà 41 Cao Thắng, Phường 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tổ tuần tra 363 thuộc Công an Quận 3 đã kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Huỳnh Diều V đang có hành vi cất giữ trong túi quần 2,3187g ma túy loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 3008/KLGĐ ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm để sử dụng dụng là bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo V có năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo biết rõ ma túy là tê nạn của xã hội, việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, vì ăn chơi trác táng bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Văn H do không biết việc bị cáo mua ma túy và cất giữ ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ. Đối với đối tượng tên Lộc sử dụng số điện thoại 0784787178 do chưa xác minh được lai lịch nên khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 gói ký hiệu 3008/22, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 2,2579g là ma túy thu giữ của bị cáo (còn lại sau khi giám định) nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh đen bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M21 màu xanh đen, số imei 355263112866459 thu giữ của ông Nguyễn Văn H, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là phù hợp.
+ Đối với 01 CMND số 023918283 mang tên Huỳnh Diều V là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần giao trả lại cho bị cáo.
+ Đối 01 xe máy Honda Wave, biển số 51K6-3381, số khung RLHHC09077Y955757, số máy HC09E-6779690. Quá trình điều tra xác định xe do ông Huỳnh Cẩm S là cha của bị cáo V đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên qua xác minh ông S đã bán nhà từ năm 2019 không rõ đi đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe nhưng chưa có kết quả. Nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án thực hiện việc thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định chung là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Diều V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Diều V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt phạm tội quả tang 24/5/2022.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói ký hiệu 3008/22, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 2,2579g được niêm phong có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Thảo và chữ ký của cán bộ điều tra Võ Quốc Hùng.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, số imei 354668772935249; số imei 2: 358183412935241.
- Giao trả cho bị cáo V 01 CMND số 023918283 mang tên Huỳnh Diều V.
- Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 làm thủ tục thông báo trên báo để tìm và trả lại một xe 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 51K6-3381, số khung RLHHC09077Y955757, số máy HC09E-6779690. Nếu quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày ra thông báo mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
Nếu chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo trong vụ án thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
(Các tài sản nêu trên được ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 69/BB/2022 ngày 22/11/2022 của Công an Quận 3 giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3)
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Diều V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng);
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án./
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - VKS ND Quận 3; - TAND TP.HCM ; - Chi cục THADS Quận 3; - Công an Quận 3; - Trại tạm giam Chí Hòa; - PC53-CATP.HCM - Lưu: VP, hồ sơ (Dung). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Sơn |