- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vòng Cảnh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 19-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi và ông Nguyễn Hữu Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2022 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 09/TB-TAH ngày 29 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Vòng Cảnh N – sinh năm 1999, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Khu x, thị trấn TP, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề N: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vòng Phát S – sinh năm 1976 và bà Nìm Sy M – sinh năm 1979; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 29/3/2022 (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hồng H – Luật sư Công ty Luật TNHH S.P thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
Địa chỉ: Phòng z ngõ k đường H.Q.V, phường NT, quận C.G, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18 giờ 25 phút ngày 28/03/2022, tại ấp Ngọc Lâm y, xã P.X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Công an xã P.X phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vòng Cảnh N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng gồm 01 bao thuốc hiệu Bastos màu đỏ chứa 04 gói nilong màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá; đối với 04 gói nilong màu trắng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đã được niêm phong bảo quản theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 29/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đối với 04 gói nilong màu trắng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số 633/KL-KTHS ngày 05/4/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6250 gam, loại Methamphetamine.” Hoàn lại mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,5985 gam.
Quá trình điều tra làm rõ hành vi phạm tội của N như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/3/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vòng Cảnh N đã liên hệ với một người đàn ông tên H (không rõ nhân thân lai lịch) ở B.H để mua 1.200.000 đồng ma túy và được Huy đồng ý, hẹn địa điểm giao dịch tại cổng huyện Tân Phú thuộc KM 126 bằng cách gửi đường ô tô khách. Đến 18 giờ cùng ngày, N ra điểm giao dịch nêu trên thì thấy xe ô tô 16 chỗ đứng bên đường nên lại hỏi thì được lơ xe đưa cho 01 gói hàng dán kín và N trả tiền 1.200.000 đồng rồi rời đi. Sau khi kiểm tra gói hàng có 01 bao thuốc lá hiệu Bastos màu đỏ bên trong chứa 04 gói nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, N điều khiển xe mô tô tìm chỗ để sử dụng ma túy, trên đường đi thì bị lực lượng Công an xã P.X tuần tra phát hiện bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú, Vòng Cảnh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Cáo trạng số 81/CT-VKSTP-ĐN ngày 02/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Vòng Cảnh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án: 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 633/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại Bài bào chữa cho bị cáo, người bào chữa trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và cân nhắc cho bị cáo mức hình phạt khoan hồng nhất có thể để bị cáo sớm về với xã hội.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận, nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Kết luận giám định... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/3/2022, tại ấp Ngọc Lâm y, xã P.X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Vòng Cảnh N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,6250 gam để sử dụng thì bị Công an xã P.X phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Hành vi của Vòng Cảnh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Ngoài ra còn xem xét cho bị cáo tình tiết có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, bị cáo là người dân tộc Hoa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng lại nghiện ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đa vã ̀ đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xa hội nõ
́i chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, thể hiện các bị cáo không có nghề N và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 633/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô biển số 60B3-764.44 là xe của gia đình bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên H có hành vi cung cấp ma túy cho Vòng Cảnh N, đối với lơ xe và xe ô tô 16 chỗ bị cáo khai vận chuyển và đưa cho bị cáo 01 gói hàng dán kín (là ma túy) và N trả tiền 1.200.000 đồng rồi rời đi; Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch những người này và tên hãng xe nên chưa lấy được lời khai, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vòng Cảnh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vòng Cảnh N 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2022.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 633/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Bị cáo Vòng Cảnh N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo và người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |