- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Kh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Cảnh;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Tống Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy Kh (tên gọi khác là Cà Rốt), sinh năm 1996 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp 2A, xã PH, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1966; tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 19/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2018 nhưng chưa nộp tiền án phí hình sự số tiền 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm số tiền 874.500 đồng và phần nghĩa vụ dân sự số tiền 17.490.000 đồng (chưa được xóa án tích); ngày 29/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 19/5/2021, bị cáo chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự theo bản án đã tuyên (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 22/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (chấp hành xong án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương vào ngày 20/7/2013); ngày 16/6/2017, bị Công an xã T, thị xã TU, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Bị cáo Nguyễn Duy Kh bị áp dụng biện pháp ngăn chăn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12/7/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn TB, huyện B, tỉnh Bình Dương; nơi ở hiện tại: Ấp BC, xã PH, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị Thúy K, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Ấp 2, xã TH, huyện BB, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Ấp 5, xã HH, huyện BB, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 09/7/2022, Nguyễn Duy Kh rủ Nguyễn Thành V đi trộm cắp mủ cao su tại Nông trường cao su HH thuộc xã HH, huyện BB, tỉnh Bình Dương bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, V đồng ý. Sau đó, Kh điều khiển xe mô tô biển số 72G1-010.88 chở Nguyễn Thành V đến Nông trường cao su HH trộm được 11kg mủ chén và 04kg mủ nước. Kh điều khiển xe mô tô chở V và số mủ cao su vừa trộm được đến điểm thu mua mủ cao su của bà Phạm Thị Ch thuộc ấp BC, xã PH, huyện P, tỉnh Bình Dương bán cho bà Ch được tổng số tiền là 150.000 đồng. Do bực tức việc bà Ch mua mủ cao su với giá rẻ nên Kh nói với V quay lại trộm cắp mủ cao su của bà Ch đem bán ở địa điểm thu mua mủ khác, V đồng ý. Kh điều khiển xe mô tô trên chở V đến lô cao su (không rõ địa điểm cụ thể) cách chỗ thu mua mủ của bà Ch khoảng 500 mét để V đứng chờ, rồi một mình Kh đi đến điểm thu mua mủ của bà Ch trộm cắp được 17kg mủ cao su. Kh điều khiển xe mô tô biển số 72G1-010.88 chở V cùng 17kg mủ cao su đi đến điểm thu mua mủ của bà Đặng Thị Thúy K thuộc khu vực xã TH, huyện BB, tỉnh Bình Dương bán được số tiền 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng). Sau đó, Kh và V dùng số tiền phạm tội mà có để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 10/7/2022, bà Ch phát hiện bị mất trộm mủ cao su nên ngày 11/7/2022, bà Ch trình báo vụ việc đến Công an xã PH, huyện P, tỉnh Bình Dương. Công an xã PH chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc, Nguyễn Duy Kh, Nguyễn Thành V khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Cáo trạng số 87/CT-VKSPG ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Kh từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về dân sự nên không đề nghị.
Bị cáo Nguyễn Duy Kh cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Duy Kh, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị hại bà Phạm Thị Ch; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Thúy K có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật; ông Nguyễn Thanh V vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, bà Ch, bà K và ông V đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, việc vắng mặt của bà Ch, bà K và ông V không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Kh đã khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 09/7/2022, tại địa điểm thu mua mủ cao su của bà Phạm Thị Ch thuộc ấp BC, xã PH, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Duy Kh cùng đối tượng Nguyễn Thành V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 17kg mủ cao su (loại mủ chén). Bị cáo Kh điều khiển xe mô tô biển số 72G1-010.88 chở V cùng 17kg mủ cao su đi đến điểm thu mua mủ thuộc khu vực xã TH, huyện BB, tỉnh Bình Dương bán cho bà Đặng Thị Thúy K được 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng) và cả hai tiêu xài cá nhân hết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Kh là người thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại bà Phạm Thị Chuyền vào ngày 09/7/2022.
Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 14/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị của 17kg mủ cao su (loại mủ chén) là 235.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người thực hành và lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo chỉ chiếm đoạt tài sản của bị hại với trị giá 235.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) nhưng do bị cáo đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng số 87/CT-VKSPG ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhân thân, bị cáo Kh đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” bị xử phạt 18 tháng tù, bị cáo đã đi chấp hành án nhưng bị cáo không tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo Kh. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ trong lần bị kết án tại Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã sử dụng tình tiết đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” ở Bản án số 39/2017/HSST ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương. Lần phạm tội này, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có trị giá 235.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng) nên HĐXX sử dụng tình tiết đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương. Do đó, các tình tiết đã bị kết án đã được sử dụng trong các bản án nên không có căn cứ để xem tái phạm là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Duy Kh là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phạm Thị Ch; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Thúy K không yêu cầu bị cáo Kh bồi thường về dân sự nên HĐXX ghi nhận.
Đối với xe mô tô biển số 72G1-010.88, bị cáo Kh mượn xe mô tô trên của người bạn tên Bùi Quốc Tr (thường gọi Tý ), sinh năm 1994, nơi cư trú: Ấp 3, xã HH, huyện BB, tỉnh Bình Dương để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Tr không biết Kh sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi trộm cắp. Sau đó, Tr sử dụng chiếc xe mô tô biển số 72G1-010.88 để thực hiện hành vi trong vụ án trộm cắp tài sản khác và đang bị Công an huyện BB tạm giữ xe mô tô biển số 72G1-010.88 để xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với ông Nguyễn Thành V cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo Nguyễn Duy Kh. Tuy nhiên, hành vi của V chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Ngày 06/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 222/QĐ-XPVPHC đối với V nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với bà Phạm Thị Ch, khi mua mủ cao su từ bị cáo Kh và V, bà Ch không biết số mủ cao su trên là do bị cáo Kh và đối tượng V trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Đối với bà Đặng Thị Thúy K khi mua mủ cao su từ Kh và V, bà K không biết số mủ cao su trên là do bị cáo Kh, V trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi Kh, V trộm cắp tài sản (mủ cao su) tại Nông trường cao su HH, thuộc xã HH, huyện BB, tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã có Công văn số 329/TB-CSĐT ngày 21/7/2022 về việc chuyển thông tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BB, tỉnh Bình Dương giải quyết theo thẩm quyền nên HĐXX không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 135, 136, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Kh 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đương sự không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Kh phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND tỉnh Bình Dương; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1) - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND huyện Phú Giáo; (1) - Công an huyện Phú Giáo; (2) - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1) - Những người tham gia tố tụng; (4) - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Lâm |