- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NQ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 10/11/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.
Hội thẩm nhân dân: ông Hà Quang Văn và ông Nguyễn Văn Phiếu.
- Thư ký phiên toà: Bùi Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: ông Đào Sỹ Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2022/TLST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn V sinh năm 1991; tại NQ; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn ĐB, xã QL, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Bùi Văn A và bà Bùi Thị T; vợ: Bùi Thị Ư; có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 01/7/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bùi Văn L sinh năm 1997; trú tại: Thôn ĐB, xã QL, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
2. Bà Bùi Thị T sinh năm 1964; trú tại: Thôn ĐB, xã QL, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
*Người làm chứng: Anh Tạ Quốc U sinh năm 1980; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn V là người nghiện ma túy, loại Heroine. Khoảng 16 giờ ngày 23/6/2022, V đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đến xã GS, huyện GV để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến khu vực cổng chùa BĐ thuộc địa phận xã GS, huyện GV thì nhìn thấy 01 người nam giới (V không biết tên, tuổi, địa chỉ) trông giống người nghiện đang đứng ở đó nên V đi lại gần người nam giới và hỏi “anh có ma túy không bán cho em hai trăm nghìn đồng”, người nam giới trả lời “có đưa tiền đây”, V cầm 200.000 đồng và đưa cho người nam giới, người nam giới cầm tiền và đưa cho V 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. V kiểm tra xác định là ma túy loại Heroine nên gói lại bỏ vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe về nhà. Người bán ma túy cho V cũng rời đi luôn. Về đến nhà, V chia gói ma túy mua được thành 02 gói, V sử dụng hết 01 gói, còn 01 gói V giữ lại mục đích bán kiếm lời, V cất gói ma túy ở túi quần phía trước bên trái. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, V đang ở nhà thì có Bùi Văn L, sinh năm 1997, trú tại thôn ĐB, xã QL, huyện NQ sử dụng điện thoại lắp sim 0862.913.062 gọi đến số điện thoại 0364.032.381 của V hỏi mua 200.000 đồng ma túy, V đồng ý và hẹn ra khu vực núi H ở thôn ĐB, xã QL, huyện NQ. Sau đó khoảng 30 phút, V đến chỗ hẹn ở khu vực đường liên thôn thuộc thôn ĐB, xã QL, huyện NQ gặp L, tại đây, V chưa kịp bán ma túy cho L thì gặp Tổ công tác Công an huyện NQ phối hợp với Công an xã QL làm nhiệm vụ tuần tra đi đến yêu cầu kiểm tra hành chính, do lo sợ và biết không thể che giấu được nên V tự giác giao nộp 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng cho Tổ công tác, V khai nhận là ma túy loại Heroine vừa mua về mục đích bán cho L với giá 200.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Tổ công tác đã thu giữ 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của V 01 điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381; thu giữ của L 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen lắp sim 0862.913.062.
Cân xác định khối lượng chất dạng cục màu trắng chứa trong gói nhỏ gói bằng giấy màu trắng thu giữ của V có khối lượng 0,12 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy;
Tại bản kết luận giám định số 528/KL-KTHS-MT ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1168 gam là ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, có số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ”.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,0813 gam còn lại trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 528/KL-KTHS-MT theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSNQ-HS ngày 05/10/2022, Viện Kiểm sát nhân huyện Nho Quan truy tố bị cáo Bùi Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của vụ án, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Văn V từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng - tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 0,0813 gam còn lại trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 528/KL-KTHS-MT theo quy định của pháp luật
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381 thu giữ của V;
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen lắp sim 0862.913.062 thu giữ của L.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 23/6/2022, bị cáo đang ở nhà thì có Bùi Văn L sinh năm 1997, trú tại: thôn ĐB, xã QL, huyện NQ sử dụng điện thoại lắp sim 0862.913.062 gọi đến số điện thoại 0364.032.381 của bị cáo hỏi mua 200.000 đồng ma túy, bị cáo đồng ý và hẹn ra khu vực núi H ở thôn ĐB, xã QL, huyện NQ. Khoảng 30 phút sau, bị cáo đến chỗ hẹn ở khu vực đường liên thôn thuộc thôn ĐB, xã QL, huyện NQ gặp L, hai bên chưa kịp trao đổi thì gặp lực lượng Công an làm nhiệm vụ tuần tra đi đến yêu cầu kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự giác giao nộp 01 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng cho Tổ công tác và khai nhận là ma túy loại Heroine vừa mua về mục đích bán cho L với giá 200.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 23/6/2022, tại khu vực đường liên thôn thuộc địa phận thôn ĐB, xã QL, huyện NQ, Bùi Văn V có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1168 gam nhằm mục đích bán cho Bùi Văn L với giá 200.000 đồng, tuy nhiên V chưa kịp bán thì bị kiểm tra bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Bùi Văn V đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 251của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự:
“1.Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07năm.
2...
5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Cáo trạng Viện kiển sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về trao đổi, quản lý chất ma túy, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Mặc dù biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên vì muốn có tiền để tiếp tục sử dụng ma túy, bị cáo vẫn cố tình vi phạm. Do đó, cần phải buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy, trở thành công dân lương thiện, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, khi bị kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện hút, công việc không ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng - tài sản tạm giữ: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381 thu giữ của V; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen lắp sim 0862.913.062 thu giữ của L; 0,0813 gam còn lại trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 528/KL-KTHS-MT theo quy định của pháp luật.
Xét thấy: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381 thu giữ của V, quá trình điều tra xác định điện thoại là của bà Bùi Thị T (mẹ đẻ V) cho V. Bà T xác định việc V sử dụng điện thoại để mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bà đề nghị xử lý chiếc điện thoại theo quy định của pháp luật. Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của Bùi Văn L, L sử dụng điện thoại liên lạc với V đẻ mua ma túy, cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước. Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.
- Tịch thu, tiêu hủy: 0,0813gam còn lại trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 528/KL-KTHS-MT theo quy định của pháp luật.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381 thu giữ của V;
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen lắp sim 0862.913.062 thu giữ của L.
[5] Về nguồn gốc số ma túy: Quá trình điều tra bị cáo Bùi Văn V khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chùa BĐ thuộc địa phận xã GS, huyện GV, tỉnh Ninh Bình. Do đó, không có căn cứ xác minh làm rõ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với Bùi Văn L mặc dù có giao dịch mua ma túy của V nhưng L chưa đưa tiền, chưa nhận được ma túy của Bùi Văn V nên không xem xét xử lý.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nho Quan, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 0,0813 gam còn lại trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 528/KL-KTHS-MT theo quy định của pháp luật.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Frome màu hồng lắp sim 0364.032.381 thu giữ của V;
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen lắp sim 0862.913.062 thu giữ của L.
Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Nho Quan và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan lập ngày 06/10/2022.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (10/11/2022). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Truờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhNinh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND H. NQ; - CA H. NQ - Chi cục THADS H. NQ - Sở Tư pháp NB; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Quang Chung. |