vanban.org

Bản án 81/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Linh P, về việc “Ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với anh Dương Văn T.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Linh P và anh Dương Văn T. Về con chung: Giao cho chị Hà Linh P được trực tiếp, tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Ngọc Nhã V, sinh ngày: 22/4/2013. Anh Dương Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu V cùng chị P mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Linh P, về việc “Ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với anh Dương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chúc Ngân

Ông Nguyễn Ánh Ngọc

Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 407/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số:110/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2022 giữa:

- Nguyên đơn: chị Hà Linh P, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: số 547B, khu phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: anh Dương Văn T, sinh năm: 1988

HKTT: số 483/3, ấp DM, xã X, huyện TN, tinh Đồng Nai.

(chị P, anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Linh P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn được UBND phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/3/2012. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của chị P.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau bên nhà ngoại tại phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Từ năm 2015 đến năm 2018 vợ chồng chị về nhà chồng sống tại ấp ấp DM, xã X.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh T có biểu hiện không chung thủy, anh T quan hệ với cô gái làm cùng công ty, do nhiều người công ty nói chị P biết và sau này chị gặp anh T chở bạn gái đi trước mặt chị từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn.

Từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân, anh T sống tại nhà nội tại số 483/3, ấp DM, xã X, huyện TN, chị P sống một mình nuôi con tại nhà ngoại tại phường L, thành phố T, Bình Dương ; từ năm 2018 đến nay vợ chồng không gặp nhau, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không về đoàn tụ được với nhau, nay chị P cương quyết ly hôn không chấp nhận về đoàn tụ gia đình.

Từ khi chị P mang con về nhà ngoại sống đến nay anh T không thăm nom, nuôi dưỡng con chung, chị P nuôi con một mình đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nay chị về Tòa án huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xin ly hôn với anh T.

Hiện nay chị đang làm công nhân, một tháng thu nhập được khoảng 8.000.000 đồng/tháng.

Về con chung : Chị và anh T có một con chung tên cháu là Dương Ngọc Nhã V, sinh ngày 22/4/2013 chị đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu V tại nhà ngoại, khi ly hôn chị P xin được trực tiếp nuôi con chung, chị P yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi cháu V thành niên và có khả năng lao động.

Về tài sản : chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung vợ chồng không có.

* Bị đơn anh Dương Văn T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của chị Hà Linh P.

* Theo biên bản xác minh ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xác minh tại công an xã và UBND xã X, huyện Thống Nhất về nơi cư trú của anh T và quan hệ hôn nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hà Linh P và anh Dương Văn T. Qua xác minh ông Lê Nguyễn Anh Duy – Công an xã Gia Tân 1 cho biết anh Dương Văn T, sinh năm 1988 có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại số nhà 483/3, ấp DM, xã X, huyện TN.

Bà Lê Thị Thu Hà- chủ tịch hội phụ nữ xã X, huyện Thống Nhất cho biết tình trạng hôn nhân hội phụ nữ xã không nắm được nguyên nhân, lý do mâu thuẫn vợ chồng của chị P, anh T vì không nhận được đơn yêu cầu hòa giải của chị P và anh T.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phương; về con chung: Hiện 01 con chung đang sinh sống và được bà Phương nuôi dưỡng nên đề nghị HĐXX giao cho bà Phương tiếp tục nuôi dưỡng, bà Phương yêu cầu ông Thái cấp dưỡng đề nghị HĐXX cần chấp nhận; Về chia tài sản không đặt ra xem xét; bà Phương phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Hà Linh P khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Dương Văn T có nơi cư trú tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

anh Dương Văn T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Chị Hà Linh P vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị P.

Về nội dung:

chị P, anh T tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2012, có đăng ký kết hôn, đáp ứng điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 12 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định, nên xác định hôn nhân giữa chị P và anh T là hợp pháp.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh T không đến Tòa án làm việc cũng như không cung cấp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị P. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, lời khai của chị P đủ cơ sở xác định trong quá trình chung sống, chị P và anh T có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng trong đời sống vợ chồng, từ khoảng năm 2018 đến nay vợ chồng không sống chung nhà với nhau, không quan tâm, yêu thương nhau, việc ai nấy làm. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành thông báo, triệu tập anh T đến Tòa để hòa giải đoàn tụ theo quy định nhưng anh T không đến Tòa làm việc, qua đó thể hiện việc anh T không quyết tâm bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị P. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P, cho ly hôn giữa chị P và anh T.

Về con Chung: vợ chồng chị P anh T có 01 con chung là cháu Dương Ngọc Nhã V, sinh ngày: 22/4/2013; hiện con chung đang sống chung với chị P. Nhằm ổn định cuộc sống của con trẻ cần tiếp tục giao cho chị P được tiếp tục, trực tiếp nuôi con là hợp lý và phù hợp với nguyện vọng của cháu. Xét anh T không trực tiếp nuôi con xét cần buộc anh T có nghĩa vụ góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị P mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu V thành niên và có khả năng lao động là có căn cứ pháp luật.

Về tài sản: các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: đương sự khai không có.

chị P là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Các bên đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Linh P, về việc “Ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với anh Dương Văn T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Linh P và anh Dương Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Hà Linh P được trực tiếp, tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Ngọc Nhã V, sinh ngày: 22/4/2013. Anh Dương Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu V cùng chị P mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con là tháng 10 năm 2022. Thời điểm chấm dứt việc cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh T được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành án thì còn phải chị khoản lãi của số tiền chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4. Về nghĩa vụ chịu án phí: chị Hà Linh P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008762 ngày 25/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Hà Linh P đã nộp đủ án phí; anh Dương Văn T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: chị Hà Linh P, anh Dương Văn T được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được cấp, tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ