- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81 /2022/HNGĐ –ST Ngày: 11 - 8 - 2022 V/v tranh chấp: “Ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Tăng Hoàng Đa
2/ Ông Lý Hồng Hạnh
- Thư ký Tòa án - Ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hƣng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Văn Lƣ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 8 năm 2022. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022, Về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 411/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1989. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực Hòa L, phường Thới H, quận Ô M, thành phố C.
-Bị đơn: Ông Đinh Nhất L, sinh năm 1982. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: 298/3 ấp Thới T B, thị trấn T, huyện T, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ L xin ly hôn với ông Đinh Nhất L.
Bà Lê Thị Mỹ L có lời khai như sau: Bà và ông Đinh Nhất L kết hôn năm 2013 có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Uỷ ban nhân dân phường Thới Hòa, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ vào ngày 6 tháng 02 năm 2014. Sau khi thành hôn về chung sống và đi làm tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Đến 4 năm 2020 thì ly thân nhau cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẩn dẫn đến việc ly thân là do bà và ông L thường xuyên cự cãi, chung sống không còn hạnh phúc. Qúa trình chung sống thì bà và ông L có 01 con chung tên Đinh Gia B, sinh ngày 05/01/2016 do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông L nữa nên xin ly hôn với ông Đinh Nhất L.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông L không thiếu nợ ai cũng như không ai thiếu nợ ông, bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Đinh Gia Bảo, sinh ngày 05/01/2016 mà không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà là thợ may, thu nhập kể cả tăng ca là 9.000.000 đồng/tháng. Bà xác định có đủ điều kiện về kinh tế và thời gian để nuôi dưỡng con chung.
Ông Đinh Nhất L không có mặt theo thông báo, triệu tập của Tòa án nên không có lời khai. Đối với ông Đinh Nhất L thì Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ thục của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Đinh Nhất L đã vắng mặt tại phiên tòa lần đến lần thứ hai không rõ lý do. Vào ngày 29 tháng 7 năm 2022 ông Đinh Nhất L có gửi cho Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đơn xin giải quyết vắng mặt tại Tòa án các cấp. Trong đơn ông L có nêu quan điểm về việc ly hôn thì ông không đồng ý, ông xin được quyền nuôi cháu Đinh Gia Bảo.
Ý kiến của kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký ghi biên bản phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn. Bị đơn được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. (Có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Đinh Nhất L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng tại phiên tòa ngày 11/8/2022 ông Đinh Nhất L vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bà Lê Thị Mỹ L là nguyên đơn trong vụ án có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông L và bà L là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ L và ông Đinh Nhất L có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thới Hòa, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Bà Lê Thị Mỹ L vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông Đinh Nhất L. Đối với ông Đinh Nhất L thì từ lúc thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhưng ông Đinh Nhất L vẫn vắng mặt tại các phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không rõ lý do cho đến khi triệu tập xét xử thì ông có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vấn đề này thấy rằng: Ông L không có mặt để tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử cho thấy ông L không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân giữa ông và bà Lê Thị Mỹ L. Xét mâu thuẩn vợ chồng của bà L và ông L đã đến mức trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử nghĩ cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L. Cho bà Lê Thị Mỹ L ly hôn với ông Đinh Nhất L là đúng với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung của bà L và ông L là Đinh Gia B, sinh ngày 05/01/2016, xét từ khi bà L và ông L ly thân cho đến nay thì Đinh Gia Bảo do bà Lê Thị Mỹ L là mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó cần chấp nhận yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con của bà Lê Thị Mỹ L. Đối với ông L chỉ ghi ý kiến xin được quyền nuôi con nhưng không gửi đơn yêu cầu cụ thể để chứng minh về việc có đủ điều kiện để nuôi dạy, cho con chung ăn học tốt, không thể hiện quan điểm có yêu cầu bà L phải cấp dưỡng nuôi con hay không nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cần giao Đinh Gia Bảo, sinh ngày 05/01/2016 cho bà Lê Thị Mỹ L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là đúng thực tế. Bà Lê Thị Mỹ L không có yêu cầu ông Đinh Nhất L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Mỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ L cho rằng không có nợ chung với ông L, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Dành cho ông Đinh Nhất L một vụ kiện dân sự khác liên quan đến việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Cần buộc bà Lê Thị Mỹ L chịu nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYEÁT ÑÒNH
Áp dụng Điều 28, 35,39, Khoản 4 Điều 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Aùp duïng Điều 56, 82, 83, 84 cuûa Luaâät Hoân nhaân vaø Gia ñìnhï;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Mỹ L. Cho bà Lê Thị Mỹ L và ông Đinh Nhất L được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao Đinh Gia B, sinh ngày 05/01/2016 cho bà Lê Thị Mỹ L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông Đinh Nhất L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đinh Nhất L được quyền lui tới thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Mỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ L cho rằng không có nợ chung với ông Đinh Nhất L, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Dành cho ông Đinh Nhất L một vụ kiện dân sự khác liên quan đến việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).
Về án phí: Buộc bà Lê Thị Mỹ L chòu nộp 300.000 ñoàng aùn phí hoân nhaân sô thaåm. Chuyển 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005447 ngày 28/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân địa phương đối với đương sự vắng mặt để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./. Nôi nhaän :
| -TAND thành phố Cần Thơ; -VKSND huyeän Thới Lai; -Chi cuïc T.H.A DS huyeän Thới Lai; -UBND phường Thới Hòa; -Ñöông söï; -Löu hs, vp. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Hoài Tuyên |