vanban.org

Bản án 81/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đinh Thị Th.

Buộc bà Đinh Thị Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 là 214.366.155 (Hai trăm mười bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó, nợ gốc là 156.645.000 (Một trăm năm mươi sáu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị Th“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đinh Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2022/DS - ST
Ngày: 24- 8 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Ngọc Thạch;

Ông Đỗ Thiết Lập.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Hậu là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thái Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2022/TLST- DS ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Địa chỉ: Số Z Ngô Quyền, phường Tr, quận K, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Nguyễn Hoàng Trung Ng – Chức vụ: Phó giám đốc khối Quản lý và Tái cấu trúc tài sản theo Giấy ủy quyền số 107772/UQ-PVB ngày 10/6/2020 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyên: Ông Lê Anh Đ, sinh năm 1980 và ông Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1990. Địa chỉ: Lầu K, số XYZ Lê Văn Sỹ, Phường J, Quận W, Thành phố H. (anh M có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền ngày 17/11/2021)

Bị đơn: Bà Đinh Thị Th. Địa chỉ: Tổ Q, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh N. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ghi ngày 17/11/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ trình bày:

Ngày 19/3/2019, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ cùng bà Đinh Thị Th ký kết hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB.CN.TN, thỏa thuận cụ thể như sau:

Số tiền cho vay là 200.000.000 đồng, mục đích để mua xe ô tô tải có mui hiệu Foton. Thời hạn vay là 60 tháng. Lãi suất vay là 8,99%/năm.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà Th đã thế chấp xe ô tô tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019, bà Đinh Thị Th đứng tên. Việc thế chấp có lập hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Th không thực hiện việc trả nợ như đã cam kết, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết. Tính đến tháng 6/2020, bà Th mới trả cho Ngân hàng 43.355.000 đồng tiền nợ gốc và lãi là 17.941.532 đồng rồi ngưng không trả nữa. Do đó, Ngân hàng đã có Thông báo số 5327/PVB-XLN ngày 27/10/2020 thu hồi nợ trước hạn đối với bà Th, yêu cầu bà Th phải thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh trước ngày 10/11/2020.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị Th thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ gốc là 156.645.000 đồng, lãi tính đến ngày xét xử là 57.721.155 (Năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng. Tổng cộng là 214.366.155 (Hai trăm mười bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng và nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 cho đến khi bà Th trả dứt nợ cho Ngân hàng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Th không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản đảm bào là xe tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019, của bà Đinh Thị Th để thu hồi nợ.

- Bị đơn bà Đinh Thị Th vắng mặt trong quá trình tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm theo giấy triệu tập bà Đinh Thị Th đến Tòa án để làm việc, nhưng bà Th đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ văn bản nào ý kiến về nội dung vụ án, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các điều 299, 317, 320, 321, 351, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Đinh Thị Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 là 156.645.000 (Một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng, lãi tính đến ngày xét xử là 57.721.155 (Năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng. Tổng cộng là 214.366.155 (Hai trăm mười bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng.

Trong trường hợp bà Đinh Thị Th không thanh toán thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp.

Án phí đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị Th trả số tiền nợ vay gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và bà Th, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn là bà Đinh Thị Th có nơi cư trú tại Tổ 6, ấp Tân Kiên, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn là bà Đinh Thị Th đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng bà Th vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đinh Thị Th.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về yêu cầu thanh toán tiền nợ vay theo Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019.

Căn cứ và Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 và lời khai của nguyên đơn thì giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ và bà Đinh Thị Th đã giao kết hợp đồng vay với số tiền vay là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, thời hạn vay là 60 tháng.

Sau khi giải ngân, bà Th đã thanh toán được tổng số tiền 43.355.000 đồng tiền nợ gốc và lãi là 17.941.532 đồng. Từ ngày 19/7/2020, bà Th không thanh toán nợ cho Ngân hàng mặc dù đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Ngân hàng đã có Thông báo số 5327/PVB-XLN ngày 27/10/2020 thu hồi nợ trước hạn đối với bà Th, yêu cầu bà Th phải thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh trước ngày 10/11/2020 nhưng bà Th vẫn không trả nợ. Căn cứ theo các điều khoản ký kết trong Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 thì bà Đinh Thị Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện bà Th yêu cầu trả số tiền vay gốc và lãi còn thiếu.

Xét yêu cầu của Ngân hàng buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc là 156.645.000 (Một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng, lãi tính đến ngày xét xử là 57.721.155 (Năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng và nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 cho đến khi bà Th trả dứt nợ cho Ngân hàng, là có cơ sở chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho việc thực hiện Hợp đồng vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019, bà Đinh Thị Th đã thế chấp quyền sở hữu chiếc xe tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019, bà Đinh Thị Th đứng tên. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng ngày 19/3/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2103/2019/HĐBĐ/PVB-CN.TN ngày 19/3/2019. Tài sản thế chấp này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 được ký kết giữa bên thế chấp và Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu nếu bà Th không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản đảm bào là xe tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019 của bà Th để thu hồi nợ là phù hợp các điều 299, 317, 320, 321 của Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ 146, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án, bà Đinh Thị Th phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 299, 317, 320, 321, 351, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đinh Thị Th.

Buộc bà Đinh Thị Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 là 214.366.155 (Hai trăm mười bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó, nợ gốc là 156.645.000 (Một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng, nợ lãi là 57.721.155 (Năm mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn một trăm năm mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày 25/8/2022, bà Đinh Thị Th còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2103/2019/HĐTD/PVB-CN-TN ngày 19/3/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ với bà Đinh Thị Th cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Ngay khi bà Đinh Thị Th thanh toán xong số nợ trên, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp và trao trả giấy tờ (bản chính) của tài sản dảm bảo là chiếc xe tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019, bà Đinh Thị Th đứng tên sở hữu.

Trong trường hợp bà Đinh Thị Th không thanh toán thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sở hữu xe tải hiệu Foton màu xanh, số khung RNNNS12NX4JCP00006, số máy 4W12M1J007105, biển kiểm soát 70C-128.84 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029873 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18/3/2019, bà Đinh Thị Th đứng tên sở hữu, được đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng ngày 19/3/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Đà Nẵng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2103/2019/HĐBĐ/PVB-CN.TN ngày 19/3/2019.

2/ Về án phí:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.830.000 (Bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007017 ngày 12/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Bà Đinh Thị Th phải chịu số tiền 10.718.000 (Mười triệu bảy trăm mười tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho các bên đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp, bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ