- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày 22/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Như Lữ.
Ông Vũ Xuân Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Hạng A D (tên gọi khác: không), sinh năm 1986, tại tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: không học; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạng Lìa C, sinh năm: 1960 và bà Thào Thị N, sinh năm: 1962; Hiện nay đang sống chung như vợ chồng với Mùa Thị D, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Theo bản án số 94/HSST ngày 29/9/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 8 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy đến tháng 9/2010 về địa phương sinh sống cho đến nay đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 08/6/2021 tạm giam đến ngày 20/6/2021 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ, ngày 29/5/2021, Hạng A D một mình đi bộ từ nhà ở bản P, xã P đi lên bản P1, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đi D có cầm theo số tiền 1.500.000đ. Khi đến ngã ba đường bê tông thuộc bản P1, xã P, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông, giới thiệu tên Sùng A C và trao đổi mua được 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 1.500.000đ. Sau khi mua được ma túy xong, D cất gói Heroine vừa mua được vào túi quần bên trái đang mặc và quay về nhà không cho ai biết. D cất gói Heroine trong túi quần mỗi ngày D lấy ra một ít để sử dụng. Đến 10 giờ 00 phút ngày 02/6/2021, khi D đang ở nhà thì bị tổ công tác công an huyện Điện Biên Đông đến nhà, do sợ bị phát hiện nên D đã bỏ chạy nhưng tổ công tác khống chế giữ lại và bị bắt quả tang đang tàng trữ 01 gói Heroine trong túi quần đang mặc trên người.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy ngày 02/6/2021 xác định: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hạng A D có khối lượng 3,07 gam trích 0,18 gam gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 562/GĐ-PC09 ngày 04/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng A D là ma túy loại Heroine, không hoàn lại đối tượng gửi giám định. Khối lượng vật chứng thu giữ của Hạng A D là 3,07 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ;
Cáo trạng số: 55/CT-VKSĐBĐ ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân h, tỉnh Điện Biên truy tố Hạng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hạng A D từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 2,89 gam Heroine còn lại sau giám định.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Hạng A D thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/6/2021; Biên bản cân xác định khối lượng gói chất bột trắng thu của bị cáo là 3,07gam; kết luận giám định số 562/GĐ-PC09 ngày 04/6/2021 xác định chất bột trắng thu giữ của bị cáo là Heroine và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định:
Bị cáo Hạng A D tuy là nghiện chất ma túy nhưng có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng vẫn cố ý đi mua Heroine về sử dụng, số Heroine còn lại sau khi sử dụng có khối lượng 3,07 gam nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố. Điều luật quy định.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…
. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bản thân nghiện chất ma túy nên mua tàng trữ sử dụng chưa sử dụng hết thì bị phát hiện bắt quả tang; Tuy nhiên bị cáo cũng nhận thức rõ chất ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, người nghiện ma túy là gánh nặng của gia đình và xã hội, ma túy cũng là nguyên nhân của các loại tội phạm khác diễn ra trong xã hội nên bị Đảng và Nhà nước có chính sách quản lý đặc biệt, nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến chất ma túy. Bản thân bị cáo cũng từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 8 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy nên càng nhận thức và hiểu rõ được sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật. Thế nhưng sau khi ra tù, bị cáo không cương quyết cai nghiện tiếp tục mua tàng trữ sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay. Bị cáo sẽ phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi mà mình đã thực hiện.
Khi bị phát hiện, bắt giữ cho đến phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2021 đến ngày 20/6/2021 sau đó được tại ngoại nên cần khấu trừ cho bị cáo 19 ngày vào thời gian chấp hành hình phạt tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, sống phụ thuộc vào sản xuất ruộng nương thu nhập thấp; bị cáo đang nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về vật chứng vụ án: Số Heroine còn lại sau giám định là 2,89 gam là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
5] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Về án phí: bị cáo là dân tộc thiểu số, đang cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Sùng A C, theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy cho bị cáo với giá 1.500.000đ, bị cáo không biết địa chỉ cụ thể, việc trao đổi mua bán chỉ có hai người biết với nhau. Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xác minh, điều tra làm rõ được nên chưa xem xét xử lý trong vụ án này. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hạng A D ( tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hạng A D 03 năm 06 tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 19 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 03 năm 05 tháng 11 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 2,89 gam Heroine ( đã trừ giám định). Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 27/8/2021 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
4. Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng A D.
5. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hạng A D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/9/2021).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |