- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày: 27/10/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Như Thủy;
Ông Ngô Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phương - Kiểm sát viên
Trong ngày 27/10/2021 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành L; giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bảo vệ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Quốc A, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Anh (chị) em ruột: 01 người em; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2021. (có mặt)
2. Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: C đường Bến Vân Đ, Phường 6, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 và con bà Trần Mỹ P, sinh năm 1977; Anh (chị) em ruột: 03 người (lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2021. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Lương Tấn Anh D, sinh năm 1991; địa chỉ: Số D đường Nguyễn T, Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương. (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Quốc A, sinh năm 1964; địa chỉ: A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 24/3/2021 Công an phường Tân P phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 7, tiến hành kiểm tra hành chính tại địa chỉ số Z Tôn Dật Tiên, Khu phố 1, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn H, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ bên trong túi áo phía trước bên phải của Nguyễn Thành L đang mặc 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể không màu, có khối lượng 2,3966 gram là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 2000/KLGĐ-H ngày 02/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn H, đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và cùng khai nhận: Các bị cáo L và L sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 1/2021. Lúc 20 giờ 00 phút ngày 24/3/2021, H có liên lạc qua mạng xã hội Zalo với L hẹn uống cà phê tại địa chỉ số Z Tôn Dật Tiên, Khu phố 1, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. H đến gặp L và mua cà phê uống, sau đó, L và H rủ nhau cùng hùn tiền đi mua ma túy về sử dụng, H đồng ý đưa cho L 100.000 đồng để chung tiền mua ma túy, L bỏ ra 900.000 đồng và một mình L đi xe gắn máy biển 59M3-08475 từ Quận 7 sang đường Tôn Đản, Quận 4, L gặp một thanh niên (chưa rõ nhân thân lại lịch) khoảng 30-35 tuổi tướng người cao 1m70, nước da ngăm đen, nói giọng Miền Nam, L mua của người thanh niên trên 01 gói ma túy đá (loại Methamphetamine) với giá tiền 1.000.000 đồng, mua được ma túy L quay về địa chỉ số Z Tôn Dật Tiên, Khu phố 1, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp H để cùng H sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra và phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Bản cáo trạng số 80/CT- VKSQ7 ngày 29/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo L và H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ chất ma túy phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ Kết luận giám định số 2000/KLGĐ-H ngày 02/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn H đồng phạm thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng, bị bắt quả tang, thu giữ 2,3966 g (Hai phẩy ba chín sáu sáu gam) là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Vì vậy, các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng để có ma túy thỏa mãn cơn nghiện nên đã phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với người thanh niên (chưa rõ nhân thân lại lịch) khoảng 30 đến 35 tuổi, tướng người cao 1m70, nước da ngăm đen, nói giọng Miền Nam bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thanh L tại đường Tôn Đản, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong, theo Kết luận giám định số 2000/KLGĐ-H ngày 02/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 2,3966 g (Hai phẩy ba chín sáu sáu gam), loại Methaphetamine. Đây là vật cấm lưu hành, không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám, thu giữ của Nguyễn Văn H (đã qua sử dụng). Bị cáo H không sử dụng vào việc phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo H.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, thu giữ của Nguyễn Thành L (đã qua sử dụng). Bị cáo L không sử dụng vào việc phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo L.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại VaRio, màu đỏ đen, biển số 61C1-X (số máy KF41E1133329, số khung MH1KF411JK132637) thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H. Bị cáo H khai mượn xe của cậu tên Lương Tấn Anh D đi công việc, không nói mượn xe đi sử dụng ma túy. Qua xác minh chủ xe là ông Lương Tấn Anh D, địa chỉ D Nguyễn T, Lái Thiêu, Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ông Lương Tấn Anh D khai cho H mượn xe đi làm hoàn toàn không biết bị cáo H mượn xe đi mua ma túy sử dụng nên xét trả lại xe cho ông D.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại SH 125I, màu trắng đen, biển số 59N3-Y(số máy JF73E0089976, số khung RLHJF7306GY089785) thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành L. Bị cáo L khai mượn xe của ba ruột tên Nguyễn Quốc A, đi công việc, hoàn toàn không biết L sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng. Qua xác minh chủ xe là Nguyễn Quốc A, địa chỉ: A, Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh. Ông Nguyễn Quốc A khai hoàn toàn không biết con trai ông tên Nguyễn Thành L sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng nên xét trả lại xe cho ông A.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2021.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành L là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 2,3966 g (Hai phẩy ba chín sáu sáu gam), loại Methaphetamine thu giữ của các bị cáo.
- Trả lại:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám cho bị cáo Nguyễn Văn H.
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh cho bị cáo Nguyễn Thành L.
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại VaRio, màu đỏ đen, biển số 61C1-X, thu giữ của Nguyễn Văn H cho ông Lương Tấn Anh D.
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại SH 125I, màu trắng đen, biển số 59N3-Y, thu giữ của Nguyễn Thành L cho ông Nguyễn Quốc A.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 103 ngày 02/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Quận 7; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ (Tk. Loan). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Chí Hiếu |