- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST . Ngày 19-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hữu Thủy
2. Bà Đào Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2021/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Phùng Văn S - Sinh năm 1986, nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị S; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tam giam từ ngày 25/8/2021 đến nay. Bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 8 năm 2021, tổ công tác Công an xã Đ, huyện T trên đường tuần tra, kiểm soát khu vực cánh đồng thôn X, xã Đ, huyện Triệu Sơn kiểm tra và thu giữ trong túi quần bên trái Phùng Văn S đang mặc 01 vỏ xi lanh màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng ngà dạng cục vụn ghi là ma túy. Công an xã Đông Lợi tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ tang vật. Sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra Phùng Văn S khai: Khoảng 21 giờ ngày 16/8/2021 do có nhu cầu sử dụng ma túy, Sơn đi bộ từ nhà tại thôn X, xã T, huyện T đến khu vực đường cao tốc Nghi Sơn -Sao Vàng đoạn giáp ranh giữa hai huyện Triệu Sơn và Nông Cống gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 300.000đ ma túy thì người đó đồng ý. S đưa cho người đàn ông 300.000đ và 01 xi lanh. Người đàn ông bỏ ma túy vào xi lanh và đưa lại cho S. S cho xi lanh chứa ma túy vào túi quần bên trái, rồi đi bộ đến cánh đồng thôn Quần Nham 1, xã Đồng Lợi để sử dụng nhưng bị Công an xã Đồng Lợi kiểm tra phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 2671/PC09 ngày 22/8/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất rắn màu trắng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,151g loại: Heroine.
Chuyển toàn bộ vật chứng còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ kí ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Vũ Thanh Dương và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa từ kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 88/CT-VKSTS ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Phùng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, 38BLHS xử phạt Phùng Văn S từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47BLHS, Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn S khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phùng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 8 năm 2021, tổ công tác Công an xã Đồng Lợi bắt quả tang Phùng Văn S tàng trữ trái phép 0,151g loại Heroine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, bản Cáo trạng và lời Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi của bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, tính chất của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Tính chất hành vi phạm tội của Phùng Văn S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng, không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc gia đình, nhân cách con người, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo và còn là một tệ nạn xã hội cần phải ngăn chặn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51BLHS nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy nên không thể cải tạo tại địa phương.
HĐXX căn cứ vào tính chất của vụ án, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã đánh giá ở trên để lên mức hình phạt phù hợp cho bị cáo và cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành do đó tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định theo điểm c khoản 1 Điều 47BLHS, Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố:
Bị cáo Phùng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Phùng Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 25/8/2021.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, 331, 333, 336, 337 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có các chữ ký của Nguyễn Trần Đăng, Vũ Thanh Dương và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn số 04/VC/2022 ngày 22/10/2021.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -TAND T. Thanh Hóa; -VKSND T. Thanh Hóa; -VKSND Triệu Sơn; -Công an Triệu Sơn; -Chi cục THA. Triệu Sơn; -Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |