vanban.org

Bản án 81/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 17/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2021/HS-ST
Ngày: 17-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quang.

2. Ông Phạm Văn Vượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2021/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2021/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Đức T, sinh ngày 19/9/1992 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân T, sinh năm 1961 và bà Đinh Thị M, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Trung T, sinh năm 1988, trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phan Văn D, sinh năm 1978, trú tại: thôn Phú Thịnh, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 50 phút, ngày 25/3/2021, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Sơn Dương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đức T, sinh ngày 19/9/1992, trú tại Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất bột vón cục màu trắng nghi là Heroine, 01 xe mô tô nhãn hiệu FIVEMOSTHOSTHOUN, màu sơn đỏ đen, biển số 22B1-180.20.

Quá trình điều tra, Lê Đức T khai nhận:

Bản thân Lê Đức T là người nghiện ma túy, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/3/2021, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu FIVEMOSTHOSTHOUN, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 22B1-180.20 mượn của anh Lê Trung T (là anh trai T) để đi tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân (Thông không biết việc T dùng xe mô tô đi mua ma túy). Khi đi đến xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, T gặp và rủ Phan Văn D, sinh năm 1978, trú tại thôn Phú Thịnh, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là bạn quen biết đi chơi cùng, Dũng đồng ý. Khi đi đến khu vực xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, T bảo Dũng xuống xe đứng đợi; T một mình điều khiển xe đi tìm mua ma túy. Khi đi khoảng 500m, T gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường “Anh có ma túy không? Bán cho em 400.000 đồng” người đó nói “Có, đưa tiền đây”. T đưa số tiền 400.000 đồng, người đàn ông đó đưa cho T 03 gói giấy bạc màu vàng. T cầm số ma túy trên đi đến khu vực bụi cây vắng người sử dụng một ít bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại, T gói lại và cất giấu vào túi áo bên trái đang mặc rồi quay lại đón Dũng đi về. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến khu vực thôn Đồng Na, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương thì bị Tổ công tác của Công an huyện Sơn Dương phát hiện nghi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đại Phú làm việc. Tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đại Phú, Lê Đức T đã tự giác giao nộp 03 gói ma túy.

Ngày 25/3/2021, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Lê Đức T, kết quả: (+) dương tính với Heroine. Phan Văn D, kết quả: (-) âm tính (không có chất ma tuý trong cơ thể).

Kết luận giám định số 341/GĐKTHS ngày 29/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Hêrôin), khối lượng 0,410g (không phẩy bốn một không gam).

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSSD, ngày 15/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Lê Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (25/3/2021).

Do bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có chứa chất Heroine, bên ngoài ghi tang vật vụ Lê Đức T giám định ngày 25/3/2021.

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 50 phút ngày 25/3/2021, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Lê Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,410g (Không phẩy bốn một không gam) Heroine (Hêrôin) mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Lê Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Xuân T được UBND xã Vân Sơn tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc năm 2012, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì có chứa chất Heroine, bên ngoài ghi tang vật vụ Lê Đức T giám định ngày 25/3/2021. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu FIVEMOSTHOSTHOUN, màu sơn đỏ đen, biển số đăng ký 22B1-180.20. Ngày 13/4/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số đăng ký 22B1-180.20 cho chủ sở hữu Lê Trung T. Anh Thông không có ý kiến gì và không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán Heroine cho Lê Đức T tại khu vực xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Đức T vào ngày 25/3/2021 tại khu vực xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Sơn Dương đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý theo quy định.

Đối với anh Phan Văn D không biết việc bị cáo mua và tàng trữ ma túy để sử dụng nên không đề cập xử lý.

Do đó, HĐXX không xem xét.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (25/3/2021).

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa hêrôin (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của cán bộ tham gia niêm phong và của Lê Đức T; cùng 05 (năm) hình dấu của Cơ quan giám định; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Đức T giám định ngày 25/3/2021”.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/5/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ