vanban.org

Bản án 81/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò văn V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2021/HS-ST
Ngày 29/06/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Mậu Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Xuất

Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 06 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 04 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn V, sinh năm: 1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản L, xã Mường L, huyện Mường A, tỉnh Đ; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Phin và bà Lò Thị Sương; Có vợ là Tòng Thị Hương và 01 con sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Căn cứ vào danh, chỉ bản bản án xác định bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2021 đến nay. Có mặt.

2. Lê Văn B, sinh năm: 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 6, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến Ích và bà: Trương Thị Loạt; Có vợ là Nguyễn Thị Phương Thu (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: không ; tiền sự: không; Nhân thân: Căn cứ vào danh, chỉ bản bản án xác định bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 43/2006/HSST ngày 11/9/2006 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 06 (06) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (đã được xóa án tích). Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2021 đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đình L, sinh năm: 1985. Trú tại: Tổ 6, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/01/2021, Lò Văn V đi bộ từ nhà trọ đến nhà Lê Văn á rủ á đến khu vực Thanh Xuyên, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mua ma túy về sử dụng. á nói không có tiền, V nói á chỉ c n chở V đi mua, sau đó V s cho á c ng sử dụng. á đồng ý và mượn được 01 chiếc xe máy kiểu dáng Dream màu nâu có biển kiểm soát 33L4.8042 chở V đi. Đến nơi, V sử dụng 400.000 đồng đưa qua khe cửa của 01 nhà cấp bốn ven quốc lộ 3, bên trong có người nhận tiền và đưa lại cho V 01 gói giấy chứa ma túy, còn B thì đứng chờ ở rìa đường. Sau khi mua được ma túy, V chia số ma túy trên làm 02 gói nhỏ và quay ra chỗ B đợi, đưa cho B 01 gói. Cả hai đi đến một bãi đất trống g n đó (thuộc địa phận tỉnh Thái Nguyên) để sử dụng một ph n ma túy mới mua được. á sử dụng ma túy b ng cách ch ch trực tiếp vào cơ thể và đã sử dụng hết số ma túy V đưa, còn V sử dụng ma túy b ng hình thức hút và chưa d ng hết số ma túy của mình. Ph n chưa sử dụng, V gói lại và cất vào túi qu n ph a trước bên phải. Sau đó, á chở V quay về. Khi quay về đến khu vực thôn ình An, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì bị Cơ quan công an kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 gói giấy k ch thước 01x01cm, trọng lượng 0.273 gam chứa chất bột màu trắng V khai là ma túy.

Tại Kết luận giám định số 991 ngày 26/01/2021 của Phòng K thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy tạm giữ của Lò Văn V là ma túy loại Hêrôin, có khối lượng 0,273 gam.

Tiến hành x t nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Lò Văn V và Lê Văn á, kết quả đều dương t nh với ma túy.

Đối với chiếc xe máy mà B sử dụng để cùng V đi mua ma túy: Qua điều tra làm rõ Lê Văn B mượn xe của anh Lê Đình L, sinh năm 1985, trú tại tổ 6, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Anh Lmua tại 01 cửa hàng Bn xe cũ không nhớ địa chỉ. Xe đăng ký mang tên Phạm Quang Quyền (thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), xe không n m trong hệ thống xe tang vật. Qua xác minh, không tìm được người nào có thông tin như trên. Việc B sử dụng xe máy đi mua ma túy, anh Lkhông biết. Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe đến Cơ quan thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với người Bn ma túy cho V, do V khai không biết rõ thông tin, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Lò Văn V và Lê Văn á đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 27/04/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lò Văn V và Lê Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/U TVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt Lò Văn V và Lê Văn B từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 20/01/2021.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,273gam Hêrôin thu giữ của Lê Văn B. Trả lại cho anh Lê Đình Lchiếc xe máy kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 33L4 - 8042.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/01/2021 tại khu vực thôn Bình An, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Lò Văn V và Lê Văn B đã có hành vi tàng trữ 0,273gam Hêrôin với mục đ ch để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ người cùng tang vật.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua Bn, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

…c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Lò Văn V và Lê Văn B về tội Tàng trữ trái ph p chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; xâm hại trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống con người. Tệ nạn ma túy không những làm suy kiệt đến kinh tế của mỗi gia đình mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nh m mục đ ch phục vụ cho nhu c u sử dụng ma túy của bản thân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai Bo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Lò Văn V là người khởi xướng, rủ rê Lê Văn B đi mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo Lê Văn B khi được Lò Văn V rủ đi mua ma túy và V nói cho sử dụng chung ma túy, B đã đồng ý sử dụng phương tiện là xe máy mượn được chở V đi mua ma túy. Tuy nhiên, đối với tội danh bị xét xử, về số ma túy mà các bị cáo tàng trữ khi bị bắt và thu giữ thì các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt ngang nhau.

Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn V chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Lê Văn B có 01 tiền án đã được xóa.

Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi phạm tội là nghiêm trọng, c n phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 ộ luật hình sự thì ngoài hình phạt ch nh bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét các bị cáo là đối tượng nghiện, quá trình xác minh tại địa phương thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:đối với 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lò Văn V và giám định viên, bên trong có chứa ma túy là chất cấm Lhành nên c n tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe máy kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 33L4 - 8042 quá trình điều tra làm rõ là tài sản của anh Lê Đình L, việc B mượn xe của anh Lđi mua ma túy, anh Lkhông biết nên c n trả lại cho anh L.

Về án ph : Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn V và Lê Văn B đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Lò Văn V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/01/2021.

+ Xử phạt bị cáo Lê Văn B 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/01/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lò Văn V và giám định viên, bên trong có chứa ma túy.

- Trả lại cho anh Lê Đình Lchiếc xe máy kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 33L4

- 8042.

(Tình trạng vật chứng như iên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 5 năm 2021 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/U TVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 ộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về ph n quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ