- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN THI KHANH T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS - ST Ngày: 28/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé T
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Anh D
2. Ông Trần Thanh K
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc H-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Diễm T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24, 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2021/TLST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo: Nguyễn Thị Khánh T, sinh năm 1998 (tên gọi khác là Phạm Ngọc P).
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn) 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Tuấn A, sinh năm 1976 và bà Trương Thị D, sinh năm 1979; anh, chị, em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2000); Chồng là Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984; con có 03 người (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021).
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Ngày 06/8/2021 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ bắt quả tang. Ngày 09/8/2021 bị khởi tố nhưng cho tại ngoại đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Khánh T bắt đầu sử dụng ma túy vào tháng 8/2018, loại ma túy T sử dụng là Methamphetamine. Nguồn gốc ma túy là T mua tại cầu Thạnh Phú thuộc ấp P, xã Q, huyện H, tỉnh Vĩnh Long từ một người tên Đ nhưng không rõ nhân thân.
Do cần ma túy sử dụng nên vào ngày 06/8/2021 Tường điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51U9-2984 đi từ nhà trọ thuộc ấp H, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long đến cầu Thạnh Phú thuộc ấp P, xã Q, huyện H để gặp Đức mua 06 bịch “ma túy đá” với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau khi đưa tiền, T nhận ma túy, T cất giấu 06 bịch ma túy vừa mua được vào bịch nilon màu vàng treo lên xe mô tô và điều khiển xe về nhà trọ.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đến khu vực ấp L, xã Q, huyện H thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H phối hợp cùng công an xã Q tuần tra yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ 06 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Căn cứ kết luận giám định số 406/KLGĐ-PC09 ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 06 bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6749 gam loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 16/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Khánh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Riêng đối với hành vi bán ma túy cho T của người thanh niên tên Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ đang tiếp tục xác minh, làm rõ, khi xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Long Hồ thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị:
- Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Khánh T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 406/KLGĐ-PC09 ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2021).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Khánh T thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi và rất hối hận, bị cáo hứa không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Khánh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung Cáo trạng đã nêu. Ngày 06/8/2021 T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51U9-2984 đi từ nhà trọ thuộc ấp H, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long đến cầu Thạnh Phú thuộc ấp P, xã Q, huyện H để gặp Đ mua 06 bịch “ma túy đá” với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau khi đưa tiền, T nhận ma túy, T cất giấu 06 bịch ma túy vừa mua được vào bịch nilon màu vàng treo lên xe mô tô và điều khiển xe về nhà trọ. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đến khu vực ấp L, xã Q, huyện H thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H phối hợp cùng công an xã Q tuần tra yêu cầu Tường dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ 06 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do đó cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, qua đó nhằm đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ và đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội là phụ nữ có thai. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định, còn có con nhỏ phải nuôi dưỡng nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Riêng đối với người bán ma túy cho Nguyễn Thị Khánh T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác minh được đối tượng sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 406/KLGĐ-PC09 ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2021).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Khánh T 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 406/KLGĐ-PC09 ngày 08/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Khánh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục thi hành án dân sự Long Hồ; - Công an huyện Long Hồ; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bé T |