- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trùng D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 13/12/2021.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-PT Ngày: 13 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lực
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn; Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2021/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo Hoàng Trùng D, Lê Ngọc H, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo:
1. Hoàng Trùng D, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1998 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 3 Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đức H và bà Phan Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2021; ngày 05/2/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay; có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
2. Lê Ngọc H sinh ngày 01 tháng 3 năm 1998 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 3 Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Lê Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2021; ngày 05/2/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay; có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trần Quốc C, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn 1 L, thị trấn N, huyện T, tỉnh Quảng Bình; có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
Ngoài ra trong vụ án này còn có một số người mà án sơ thẩm xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên xét thấy không liên quan đến việc xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/01/2021, Lê Ngọc H, Hoàng Trùng D và Trần Quốc C trong khi cùng ngồi chơi với nhau tại quán cafe “Đam Mê” ở Thôn 3 Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, C đã khởi xướng việc góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng. H hỏi C có tiền góp không thì C trả lời “Được 30.000 đồng trả tiền nước hết rồi”. Nghe C trao đổi với H nội dung trên, D đã chủ động nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Trần Hải N mượn số tiền 200.000 đồng và được N đồng ý. Lập tức N chuyển số tiền trên vào tài khoản của H. Cùng lúc này có Nguyễn Hoài N gọi điện thoại đến cho H và khi biết H đang ngồi tại quán cafe “Đam Mê” thì N điều khiển xe mô tô BKS 73K2-2641 đến gặp H. Sau khi mượn được tiền, D nói lại cho H biết việc Trần Hải N đã chuyển tiền vào tài khoản của H, nên H quay về nhà lấy thẻ ATM đi rút tiền. Do không rút được tiền nên H quay lại quán cafe, nói với D việc không rút được tiền. D liền đưa cho H số tiền 20.000 đồng để H đến cửa hàng tạp hóa của chị Phan Thị D, trả phí 20.000 đồng cho chị D và chuyển số tiền 200.000 đồng từ tài khoản của H sang tài khoản chị D, rồi lấy tiền mặt 200.000 đồng từ chị D. Sau khi lấy được tiền, H quay lại quán cafe thông báo cho D việc đã rút được tiền. D đưa thêm cho H 50.000 đồng. H cầm số tiền 250.000 đồng đi mua 03 viên ma túy tổng hợp, loại ma túy hồng phiến với giá 250.000 đồng. Theo H khai thì người bán ma túy là Nguyễn Quang H1, trú tại thôn 2 Đ, xã T, T nhưng Nguyễn Quang H1 không thừa nhận và Cơ quan điều tra cũng không đủ căn cứ chứng minh H1 có bán ma túy cho H như lời khai của H. Sau khi mua được ma túy, H quay lại quán cafe, bỏ gói nilon chứa 03 viên ma túy vào bên trong bao thuốc lá và đặt ra giữa bàn rồi cùng mọi người ngồi uống nước. Được một lúc, C lấy bao thuốc lá bỏ vào túi quần rồi nói “tau về trước đã” và điều khiển xe mô tô BKS 73F1-431.36 đến gần khu vực ngã ba Trường NguyễnTrãi thì dừng lại. Tại đây C lấy điện thoại nhắn tin qua ứng dụng messenger cho N, hỏi “Chơi ở mô” (ý là hỏi N và mọi người sử dụng ma túy ở đâu). H nhắn tin lại cho C là “Đồ nơi mi” (ý là cho C biết gói ma túy để trong gói thuốc lá C đang cầm theo). C lấy gói thuốc mở ra kiểm tra thấy có ma túy bên trong, liền cất vào túi quần, rồi nhắn tin báo cho H là mình đang đứng đợi ở ngã ba Trường Nguyễn Trãi. Khoảng 20 phút sau, H, D và N đến chỗ C đang đợi, C đưa gói thuốc lá chứa ma túy lại cho H cầm, rồi nói “Ra chỗ cũ để chơi”, thì cả 4 người đều hiểu và nhất trí cùng nhau đến khu vực suối Ch, thuộc Thôn 1 Đ, xã T, huyện T để sử dụng ma túy. Trên đường đi, N dừng lại bên đường, nhặt theo 01 chai nhựa với mục đích làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi đến suối Ch, H lấy gói ma túy từ trong bao thuốc lá ra để xuống đất, N cầm chai nhựa đi xuống suối lấy nước vào chai, rồi quay lên vị trí mọi người đang ngồi, sau đó H và N dùng điện thoại của mình bật đèn flas chiếu sáng, còn C lấy tờ giấy bạc bên trong gói thuốc lá làm thành máng (dụng cụ để sử dụng ma túy) rồi lấy 01 viên ma túy đặt lên máng, dùng bật lửa ga châm lửa vào dưới máng, đốt nóng viên ma túy, đưa vào ống hút gắn ở chai nước để lần lượt cho mọi người sử dụng. C sử dụng sau cùng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, C lấy mảnh giấy bạc trong gói thuốc lá, xếp thành máng như lần trước, rồi lấy viên ma túy thứ hai ra để tiếp tục sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Lê Ngọc H và Nguyễn Hoài N bỏ chạy khỏi hiện trường, còn Hoàng Trùng D, Trần Quốc C bị bắt giữ tại chỗ. Lê Ngọc H sau đó quay lại để trình diện. Tại hiện trường, lực lượng Công an huyện Bố Trạch đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 viên nén dạng tân dược, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ ký hiệu “WY” cùng các tang vật liên quan. Đến ngày 17/01/2012, Nguyễn Hoài N đến trình diện tại Cơ quan điều tra để phục vụ công tác điều tra đối với vụ án.
Tại Kết luận giám định số: 188/QĐ - PC 09 ngày 22/01/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: "Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,184 gam, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ".
- Việc thu giữ vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã thu giữ tại Hoàng Trùng D 01 xe máy BKS 73F1 - 158.99 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu vàng, số máy MQ3E2VN/A (bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0705.456.607); thu giữ của Trần Quốc C 01 xe máy BKS 73F1 - 431.36 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng hồng, số máy MQ7A2J/A (bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0816.679.157); thu giữ của Nguyễn Hoài N 01 xe máy BKS 73K2 – 2641, 01 chai nhựa trong suốt bị đục lỗ (bên trong rỗng) và 01 túi ni lon, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng. Đối với điện thoại của Lê Ngọc H và của Nguyễn Hoài N dùng vào việc nhắn tin rủ nhau sử dụng ma túy, thời điểm bị Công an phát hiện H và N bỏ chạy làm rơi điện thoại trên đường, không xác định được địa điểm, hiện không thu hồi được.
- Việc xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe máy BKS 73F1 - 158.99 có giấy đăng ký số 018411, mang tên Hoàng Đức D (anh trai của Hoàng Trùng D), 01 xe máy BKS 73K2 – 2641, có giấy đăng ký số 20628, mang tên Trần Văn S ở xã T, huyện T đã bán lại cho ông Nguyễn B (bố của Nguyễn Hoài N) và 01 xe máy BKS 73F1 - 431.36 có giấy đăng ký số 025040, mang tên Trần Văn Th (bố của Trần Quốc C), do không liên quan đến hành vi phạm tội, nên ngày 21/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã ra quyết định xử lý vật chứng số 35 bằng hình thức trả lại cho các chủ sở hữu. Hiện tại đang tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon 6 màu vàng, số máy MQ3E2VN/A (bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0705.456.607); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng hồng, số máy MQ7A2J/A (bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0816.679.157); 01 chai nhựa trong suốt đã bị đục lỗ và 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 188/GĐ-PC 09, bên trong chứa khối lượng Methamphetamine được hoàn lại sau giám định (BL 195-197).
Bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSBT ngày 09/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Hoàng Trùng D, Lê Ngọc H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tuyên bố các bị cáo Hoàng Trùng D, Lê Ngọc H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 65 và điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Trùng D 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng; xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/8/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình có Quyết định kháng nghị số 1754/QĐ-VKSQB, kháng nghị Bản án hình sự số 50/2021/HS-ST ngày 17-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, theo đó yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án sơ thẩm để điều tra lại, làm rõ hành vi ‘Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Trần Quốc C theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình để điều tra lại nhằm làm rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Quốc C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo Hoàng Trùng D, Lê Ngọc H, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Quốc C (tư cách tham gia tố tụng xác định theo án sơ thẩm) hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, với nội dung vụ án mà Bản án sơ thẩm đã xác định. Do đó đủ căn cứ xác định Trần Quốc C trong lúc ngồi uống cà phê cùng Hoàng Trùng D, Lê Ngọc H tại quán cà phê “Đam Mê” ở Thôn 3 Đ, xã T, huyện T, đã có hành vi khởi xướng việc góp tiền ma túy để sử dụng và khi được Lê Ngọc H thông báo cho biết số ma túy mà H mua về có trong gói thuốc lá mà Trần Quốc C đang mang theo người, C đã kiểm tra, xác định có ma túy trong gói thuốc lá, tiếp tục cất giữ gói thuốc lá có chứa ma túy và đưa đến địa điểm khu vực suối V để cùng nhau sử dụng ma túy.
. Hành vi này của Trần Quốc C phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn đến không xét xử Trần Quốc C về hành vi phạm tội nói trên là bỏ lọt tội phạm.
. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì trường hợp có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt người phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Do đó, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, giao hồ sơ để Cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra lại theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự, hủy Bản án sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, chuyển Hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch để điều tra lại theo thủ tục chung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 13/12/2021.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Quảng Bình; - CQĐT; VKS; TAND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Vụ GĐKT 1 TAND tối cao; - Sở Tư pháp; Bị cáo; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Quảng Lực |