- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạnh-Hữu"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HNST Ngày: 16 – 9 - 2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- TH2nh phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Ông Trịnh Văn Đoan
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 106/2021/TLST- HNGĐ ngày 11/5/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2021/QĐST-HPT ngày 06/9/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1984
Địa chỉ: 275/16 đường N, khu phố C, phường Ch, tH2nh phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Phạm Trung H1, sinh năm 1979.
Địa chỉ: tổ 4, ấp V, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Phạm Trung H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2010, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ch, tH2nh phố T, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, anh H1 hay chơi bài bạc, không quan tâm, chăm lo cho vợ con, thời gian sau điều trị bệnh ở bệnh viện thì anh H1 thường xuyên chửi bới vợ con. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Trung H1.
Về con chung: Có 02 con chung Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 09/9/2012 và Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/01/2016. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, chưa yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn Phạm Trung H1: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H1 không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tH2nh phần các đương sự tham gia vụ án và phiên tòa đúng quy định.
Kiến nghị: Không có.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H, cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Trung H1; giao 02 con chung Phạm Thị Mỹ H2 và Phạm Nguyễn Bảo N cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi Nên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Phạm Trung H1, anh H1 hiện cư trú tại xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Phạm Trung H1 vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên chị H yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Phạm Trung H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2010, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ch, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp. Trong quá trình chung sống do anh H1 hay chơi bài bạc, không quan tâm, chăm lo cho vợ con, thời gian sau điều trị bệnh ở bệnh viện thì anh H1 thường xuyên chửi bới vợ con nên chị Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Trung H1. Đối với bị đơn, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H1 đến Tòa án làm việc, tạo điều kiện cho các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng anh H1 không có ý kiến thể hiện nguyện vọng được đoàn tụ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh thì địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh H1, chỉ xác định chị H và anh H1 không còn chung sống cùng nhau được thời gian dài. Bà Trần Thị Mai-là mẹ của anh H1 cũng cho biết vợ chồng anh H1 không chung sống cùng nhau từ tháng 7/2020, hai bên không còn yêu thương, quan tâm, lo lắng cho nhau. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 là có thật, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau được thời gian dài, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 09/9/2012 và Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/01/2016 . Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, anh H1 không có ý kiến thể hiện nguyện vọng được nuôi con chung khi ly hôn.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo biên bản lấy lời khai ngày 21/5/2021 cháu Phạm Thị Mỹ H2 có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ không chung sống cùng nhau; 2 cháu đều là con gái và hiện nay do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo ổn định cuộc sống của con chung đồng thời tạo điều kiện tốt để con chung phát triển về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao 02 con chung Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 09/9/2012 và Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/01/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ H chưa yêu cầu anh Phạm Trung H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 56, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Trung H1.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 10/5/2010 của Ủy ban nhân dân phường Ch, thị xã T(nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Về con chung: Giao Phạm Thị Mỹ H2, sinh ngày 09/9/2012 và Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/01/2016 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ H chưa yêu cầu anh Phạm Trung H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 023633 ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện H; - THA huyện H; - Đương sự; - UBND phường Ch; - Lưu HS. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Đình Học |