- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2020/HS-ST Ngày 22-07-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phan Công Tồn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Minh Đức
Bà Lê Thị Thanh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 07 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 06 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân H, sinh 1983 tại Gia Lai. Nơi ĐKHKTT: Tổ 02, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở trước khi bị bắt: Thuê trọ tại số 227 đường Lê Đại Hành, tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Văn Thị H1, sinh năm 1944 (đã chết); có vợ (không đăng ký kết hôn) tên Bùi Thị X, sinh năm 1977 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018;
Nhân thân:
Ngày 23-3-2015, bị Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với mức phạt 500.000 đồng. Ngày 30-3-2015 đã chấp hành xong quyết định xử phạt.
Ngày 26-12-2015, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (tại phường Y), về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 26-12-2015. Đến ngày 26-3-2016 đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Xuân H bị tạm giữ từ ngày 26-02-2020 đến ngày 06-3-2020 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Pleiku. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người chứng kiến ông Vũ Xuân T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Xuân H là người có sử dụng ma túy; qua mối quan hệ ngoài xã hội, H có được số điện thoại của đối tượng tên M (không rõ nhân thân, lai lịch). Vào khoảng 10 giờ, ngày 26-02-2020 H gọi điện thoại cho M hỏi mua ma túy đá để sử dụng, M đồng ý và hẹn H đến khu vực đường Phạm Ngọc Thạch, phường Đ, thành phố P để thực hiện việc mua bán ma túy, H đã đến nơi hẹn để gặp M. Tại đây, M đưa cho H 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa ma túy, H trả cho M 500.000 đồng. Sau khi mua được gói ma túy, H cất giấu trong túi quần đang mặc rồi đi về phòng trọ ở số 227 đường Lê Đại Hành, tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đang ở trong phòng trọ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi quần H đang mặc 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong theo quy định.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của H, gồm: 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy bằng chai thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống thủy tinh uốn cong 01 đầu và đoạn ống hút nhựa; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, kèm sim, có số seri: 8984.04800.00640.61924.
Tại Bản kết luận giám định số 251/KLGĐ ngày 04-3-2020 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01(một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0615 gam”.
Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 251/PC09 ngày 04-3-2020, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chuyển theo vụ án để xử lý.
Đối với chai thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống thủy tinh uốn cong 01 đầu và đoạn ống hút nhựa là dụng cụ bị cáo H dùng để sử dụng ma túy; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, kèm sim số seri : 8984.04800.00640.61924 là công cụ bị cáo H dùng để liên lạc mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chuyển theo vụ án để xử lý.
Bản cáo trạng số 95/CT-VKS, ngày 11-6-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố. Đồng thời cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 251/KLGĐ ngày 04-3-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của bị cáo Trần Xuân H;
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Xuân Hưng mức án từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống thủy tinh uốn cong 01 đầu và đoạn ống hút nhựa;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn, ghi số 251/PC09 ngày 04-3-2020 có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
- Tịch thu sung công: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, kèm sim số.
Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Xuân H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Xuân H không có ý kiến tranh luận về lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku.
Bị cáo Trần Xuân H nói lời nói sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử bị cáo đã nhận thấy hành vi đã vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình chăm sóc con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân H là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26-02-2020, tại phòng trọ số 227 đường Lê Đại Hành, tổ 03, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi Trần Xuân H đang cất giấu 1,0615 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II được ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 197/2013 của Chính phủ. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ các chất ma túy này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Hành vi tàng trữ 1,0615 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng mà bị cáo Trần Xuân H đã thực hiện, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Trần Xuân H là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về nhân thân: Ngày 23-3-2015, bị Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với mức phạt 500.000 đồng, đến ngày 30-3-2015 đã chấp hành xong. Ngày 26-12-2015, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (tại phường Y), về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 26-12-2015, đến ngày ngày 26-3-2016 đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Như vậy, tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 26-02-2020 thì đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần Xuân H là người đã trưởng thành, hoàn toàn nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước; xâm phạm trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo là người có sử dụng ma túy, biết được tác hại của ma túy là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác; bị cáo có nhân thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên cố ý cất giữ 1,0615 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo thu nhập không ổn định cũng như không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên tên M mà bị cáo H khai đã bán chất ma túy loại Methamphetamine cho H vào ngày 26-02-2020, quá trình điều tra do H không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã tiến hành xác minh tại phường Đống Đa nhưng không xác định được ai; đồng thời mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi trong điện thoại đã thu giữ của bị cáo H nhưng không xác định được số điện thoại của đối tượng M, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chưa có căn cứ xử lý. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được đối tượng nêu trên, sẽ xem xét và xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 bì công văn, ghi số 251/PC09 ngày 04-3-2020 có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và chai thủy tinh trên đầu có gắn 01 ống thủy tinh uốn cong 01 đầu và đoạn ống hút nhựa là dụng cụ bị cáo H dùng để sử dụng ma túy. Thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, kèm sim số seri : 8984.04800.00640.61924 là công cụ bị cáo H dùng để liên lạc mua ma túy. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 26 tháng 02 năm 2020).
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì công văn ghi số 251/PC09 ngày 04-3-2020, có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và 01 (một) chai thủy tinh trên đầu có gắn 01 (một) ống thủy tinh uốn cong 01 (một) đầu và đoạn ống hút nhựa.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, kèm sim số. (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong)
(Tất cả vật chứng nêu trên có số lượng, đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 7 năm 2020 giữa Công an thành phố Pleiku và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai)
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Xuân H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND Tp. Pleiku; - Công an Tp. Pleiku; - Chi cục THADS Tp. Pleiku; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Công Tồn |