vanban.org

Bản án 81/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

, (khoản 2 đối với Ch) Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với

S); Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h ình sự. Về tội danh : Bị cáo Phạm Tuấn Ch và Nguyễn Th ế S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ch tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? , (khoản 2 đối với Ch) Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng h ình sự; Điều 17 Bộ luật h ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 81/2020/HS-ST
Ngày: 30/9/2020

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈ NH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Lê Văn Ký

2. Ông Đoàn Thân

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn

- Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát vi ên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 71/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 76 /2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo :

1/ Phạm Tuấn Ch, sinh năm 1991; Tại: xã Thành Lộ c, huyện Hậu Lộc , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú : Thôn T, xã T, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do ; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Tuấn L (đã chết) và bà Lê Thị O ; Chưa c ó vợ ; Tiền sự : Không; Tiền án: Không. Bị bắt t ạm giữ từ ng ày 29/5/2020 đến ng ày 07/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Nguyễn Thế S, sinh năm 1990; Tại: x ã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc

, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Th, xã T, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr ình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Nguyễn Thế S (đã chết) và bà Lê Thị Q ; Có vợ l à Đoàn Thị Th và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án:

01, Ngày 23/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng t

ù về tội “Trộm cắp t ài sản”, ra trại ng ày 07/5/2019. Nhân thân: Ngày 20/12/2015 bị Công an huyện H ậu Lộc xử phạt h

ành chính 1.000.000đồng về h ành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giữ từ ng

ày 29/5/2020 đến ng ày 07/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như s au: Khoảng 23 giờ ngày 29/5/2020, Phạm Tuấn Ch đang ngồi chơi ở nh à của Nguyễn Thế

S thì Ch nói với S “tao có 200.000 đồng sang H à Trung lấy cái ch ơi” . S hiểu ý của Ch muốn rủ sang huyện H

à Trung mua ma túy sử dụng n ên đồng ý v à lấy xe đạp ( của mẹ S là bà Lê Thị Quý) để Ch chở sang huyện H à Trung mua ma túy. Khi đi đến Công ty thuốc lá Thanh Hóa th ì cả hai đi vào đư ờng b ên cạnh, đi qua ng ã ba thôn Thư ợng Quý, thị trấn H à Trung đến đoạn đư ờng có mái v òm bắc qua đ ư ờng th ì Ch dừn g xe lại v à đưa cho S 200.000đồng để S mua ma túy. S gặp một ng ư ời đ àn ông không quen biết, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang đang đứng ở đ

ư ờng, S hỏi ng ư ời n ày có ma túy không bán cho 200.000đồng và đưa cho ngư ời n ày 200.000đồng, hiểu ý S hỏi mua ma túy n ên ngư ời nay không nói g ì, cầm tiền v à đưa l ại cho S 01 gói ma túy, bên ngoài bọc bằng nilong m àu vàng cam. S cầm gói ma túy ngồi l ên xe đạp đồng thời bỏ gói ma túy ngay dư ới y ên xe đạp để Ch chở về nh à. Khi đi đến nh à hàng Tuấn Hằng thuộc tiểu khu 3 , thị trấn H à Trung thì bị tổ công tác Công an huyện v à Công an thị trấn yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tổ công tác đ

ã phát hiện, thu giữ gói ma túy d ư ới y ên xe đạp, ni êm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số:

1536/PC09 ngày 08/6/2020 củ a Phòng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn của phong b ì niêm phong gửi giám định l à ma túy có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) 0,232gam loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số

80/CT-VKSHT ngày 08/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá đ ã truy tố Phạm Tuấn Ch và Nguyễn Thế S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật h

ình sự.

Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H

à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1

Điều 249; điểm s khoản 1 (khoản 2 đối với

Ch) Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với

S); Điều 38 ; Điều 17; Điều 58 Bộ luật h ình sự. Đề nghị xử phạt

Phạm Tuấn Ch từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Nguyễn Thế S từ 21 tháng đến 24 tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu ti êu hủy to àn bộ chất ma túy l à Heroine là mẫu vật c òn lại sau giám định và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo biế t hành vi của mình là vi phạm pháp luật . Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm đư ợc trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồ ng xét xử nhận định nh ư sau:

[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an huyện Hà Trung, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h

ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về h

ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về h ành vi phạm tội của

các bị cáo: Tại phi ên tòa, bị cáo Phạm Tuấn Ch và Nguyễn Thế S đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố

. Đối chiếu lời khai nhận của

các bị cáo với lời khai của ng ư ời làm chứng , kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử

có đủ c ơ s ở kết luận : Vào hồi 23 giờ 30 phút ng ày 29/5/2020, tổ công tác Công an huyện H à Trung phối hợp với Công an thị trấn H à Trung làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự tại khu vực tiểu khu 3, thị trấn H

à Trung, huyện H à Trung thì phát hiện Phạm Tuấn Ch điều khiển xe đạp

chở phía sau l à Nguyễn Thế S có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác

đã tiến h ành dừng xe để kiểm tra. Quá tr

ình kiểm tra phát hiện 01 gói nhỏ b ên ngoài bọc bằng nilong m àu vàng cam ở d ư ới y ên xe đạp, Ch và S khai đó là ma túy vừa mua về để sử dụng

. Tổ công tác đ ã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang, thu giữ v à niêm phong vật chứng theo quy định.

Gói ma túy có trọng l ư ợng (khối lư ợng) 0,232gam loại Heroin e. Như v ậy h ành vi của các bị cáo đ ã phạm tội “T àng trữ trái phép chất ma túy” .

[3]. Về tính chất, mức độ nghi

êm trọng của h ành vi phạm tội : Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của

các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nh à nư ớc về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an to

àn xã hội, h ành vi đó là rất nghi êm trọng, ma ng tính nguy hiểm cao cho x ã hội. Các bị cáo phải biết rằng ma tuý l à hiểm hoạ, l à nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức v

à cũng l à nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh h

ư ởng lớn đến trật tự trị an x

ã hội. Căn cứ v ào hành vi phạm tội của

các bị cáo cần phải đ ư ợc x ử lý nghi êm khắc để giáo dục c ác bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe ph òng ngừa những kẻ có ý đồ phạm tội như các các bị cáo. N ên cần xử cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng x

ã hội một thời gian để cải tạo giáo dục l

à cần thiết .

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện h ành vi phạm tội nh ưng không có sự câu kết chặt chẽ n

ên chỉ l à đồng phạm giản đ ơn. Các b ị cáo c ùng tham gia một thời điểm. Ch là ngư ời khởi x ư ớng và có tiền , S là ngư ời trực tiếp mua ma túy

, nên Ch có vai trò và mức h ình phạt cao h ơn S.

[4]. Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:

Bị cáo Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Đối với S, Ngày 23/01/2019 bị T òa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh

Hóa xử phạt 06 tháng t ù về tội “Trộm cắp t

ài sản”. Lần phạm tội n

ày chưa đư ợc xóa án tích nên cần áp dụng t ình tiết tái phạm , quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h ình sự để tăng nặng trách nhiệm h

ình sự cho bị cáo. Ngo ài ra nhân thân bị cáo, ngày 20/12/2015 bị Công an huyệ n hậu Lộc xử phạt h

ành chính 1.000.000đồng về h ành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tuy đ ã đư ợc xóa tiền sự , nhưng đây thể hiện bị cáo xem th ư ờng pháp luật, không chịu tu d ư ỡng bản thân, nên cần xem xét khi quyết định h ình phạt.

Trong quá trình điều t ra và tại phi ên tòa, các bị cáo đ ã thành khẩn khai báo , đối với Ch có thời gia tham gia quân ngũ v à đư ợc tặng danh hiệu chiến sỹ

thi đua quyết thắng . Nên cần áp dụng điểm s khoản 1

(khoản 2 đối với

Ch) Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một ph

ần h ình phạt ch o các bị cáo để các bị cáo thấy đ ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên các bị cáo l à lao động tự do, không có thu nhập , là đối t ư ợng n ghiện ma túy, không có t ài sản ri êng, số l ư ợng chất ma túy tàng trữ không nhằm mục đích kiếm lời

. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng h ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Số Heroin (vật chứng c

òn lại sau giám định) thu đư ợc của c ác bị cáo là vật Nh à nư ớc cấm l ưu h ành nên cần tịch thu ti êu huỷ.

Đối với c hiếc xe xe đạp các bị cáo sử dụng đi mua ma túy l à của bà Lê Thị Q (mẹ của S), bà Q không biết S dùng xe đi mua ma túy, Cơ quan đi ều tra đã trả lại cho bà Lê Thị Q là chính xác.

[7]. Đối với ngư ời đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết tên tuổi , địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của ph áp luật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ v ào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1

, (khoản 2 đối với Ch) Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với

S); Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h ình sự.

- Về tội danh : Bị cáo Phạm Tuấn Ch và Nguyễn Th ế S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về mức h ình phạt:

Xử phạt b ị cáo Phạm Tuấn Ch: 18 (Mư ời tám) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 29 /5/2020.

Xử phạt b ị cáo Nguyễn Thế S: 24 (Hai mươi b ốn) tháng tù. Thời h ạn chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 29 /5/2020.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h

ình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng h

ình sự;

Tịch thu ti êu huỷ số Heroin c òn lại sau giám định có trong b ì niêm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

(Hiện đang đ ư ợc l ưu gi ữ tại Chi cục thi h

ành án huyện H à Trung theo biên bản giao nhận ng ày 11/9/2020).

- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h

ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 32

6/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo

Phạm Tuấn Ch và Nguyễn Thế S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.

Trư ờng hợp bản án đ ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật thi h ành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h

ành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án n ày trong hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Cỡ chữ