vanban.org

Bản án 81/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Quoc Bao - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2018/HS-ST.
Ngày 31-10-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Văn Khang;

Ông Lê Đình Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quốc B sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T và bà Bùi Thị N; vợ, con: Không có; Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2018 đến nay; bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 31/8/2018, tại khu vực ngã tư B thuộc ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện T bắt quả tang Trần Quốc B đang bán trái phép 01 bịch nylon màu trắng được bịt kín bên trong chứa tinh thể trong suốt (nghi là ma túy) cho Mai Bích T sinh năm 1991 với giá 500.000 đồng. Thu giữ thêm trên người B 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt, số tiền 300.000 đồng và một số vật chứng khác có liên quan.

Qua điều tra, B khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 31/8/2018, T điện thoại cho B hỏi mua 01 bịch chất ma túy với giá 500.000 đồng thì B đồng ý và hẹn đến khu vực ngã tư B để giao nhận chất ma túy. Sau đó, B đến gặp T để nhận 500.000 đồng rồi đi đến ngã tư P thuộc huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên T1 (không rõ địa chỉ) mua 01 bịch chất ma túy với giá 500.000 đồng, phân thành 02 bịch rồi quay về điểm hẹn giao cho T 01 bịch chất ma túy và nhận thêm tiền xăng 100.000 đồng thì bị bắt quả tang như trên. Ngoài ra, từ ngày 21/8/2018 đến ngày 30/8/2018, B đã bán ma túy cho T được 03 lần phù hợp với lời khai của T.

Tại Kết luận giám định số 1117/KL-KTHS ngày 02/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon được bịt kín (ký hiệu M1) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1606 gam; tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon được bịt kín (ký hiệu M2) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,0807 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của

mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Trần Quốc B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc B từ 07 đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với những chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng, đã có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 21/8/2018 đến ngày 31/8/2018, Trần Quốc B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Mai Bích T được 04 lần. Riêng lần bị bắt, B bán chất ma túy với tên gọi Methamphetamine có tổng trọng lượng 0,2413 gam đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo thực hiện nhiều lần (04 lần) mua bán ma túy nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Cụ thể, bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua chất ma túy về chia nhỏ để bán cho đối tượng nghiện ma túy sử dụng nhằm mục đích thu lợi bất chính đồng thời tiếp tay cho những đối tượng này đi vào con đường tệ nạn xã hội. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú những lần phạm tội khác; bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Quốc B, Mai Bích T, Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Riêng người thanh niên tên T1 đã bán ma túy cho B hiện không rõ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra cần tiếp tục làm rõ để xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 300.000 đồng, thu của bị cáo là tiền bị cáo thu lợi từ hành vi mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 357470043244080, bên trong có sim số 01883516802, thu của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với một gói niêm phong ghi vụ số 1117/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T và trợ lý Thi Sĩ P bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,1079 gam và một gói niêm phong ghi vụ số 1117/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T và trợ lý Thi Sĩ P, bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,0523 gam là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bật lửa màu trắng; 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu (nỏ); 01 nắp nhựa màu đỏ có gắn ống hút màu vàng sọc trắng và ống hút màu trắng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 một bật lửa màu xanh là công cụ sử dụng ma túy không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc B 07 (bảy) năm tù. Về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31 tháng 8 năm 2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- Tiền Việt Nam 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

- Một điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 357470043244080, bên trong có sim số 01883516802.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy:

- Một gói niêm phong ghi vụ số 1117/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T và trợ lý Thi Sĩ P bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,1079 gam và một gói niêm phong ghi vụ số 1117/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T và trợ lý Thi Sĩ P, bên trong là chất ma túy tên gọi Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,0523 gam.

- Một bật lửa màu trắng; một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu (nỏ); một nắp nhựa màu đỏ có gắn ống hút màu vàng sọc trắng và ống hút màu trắng; một cây kéo bằng kim loại màu trắng; một bật lửa màu xanh.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Quốc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ