vanban.org

Bản án 81/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2018/HS-PT
Ngày: 19-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hiệp

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Châu Thạch

Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 109/2018/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2018/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh ngày 19-4-1990 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn s, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; hiện cả hai cư trú: xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Vũ Thị T, sinh năm 1994; con: Nguyễn Bảo A, sinh năm 2015; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-4-2018 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đức Trong, tỉnh Lâm Đồng;

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 35/2011/HS-ST ngày 17-5-2011, đến ngày 04-12-2012 bị cáo đã chấp hành xong bản án. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16-4-2018, Công an huyện Đức Trọng tiến hành kiểm tra hành chính phòng 304 nhà nghỉ Phương An tại địa chỉ: số nhà 1A LQĐ, thị trấn LN, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng trong phòng có Nguyễn Văn H và Hà Triệu V. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi xách bằng vải dù màu đen của Nguyễn Văn H có 01 gói nylon kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá, cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H và tiến hành niêm phong gói nylon vừa thu giữ được. H khai đây là số ma túy Hồng mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở khu vực bờ hồ thành phố Bảo Lộc với giá 2.000.000đồng, sau đó mang về Đức Trọng cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt.

Ngày 16-4-2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Trọng đã ra quyết định trưng cầu giám định và gửi vật chứng thu giữ được đến phòng PC 54 Công an tỉnh Lâm Đồng để gíam định. Tại bản kết luận giám định số 630/PC54 ngày 18-4-2018 xác định chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định có khối lượng 1,8209g là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 67 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi xách bằng vải dù màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng màu đen; 01 Chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn H. Hiện số vật chứng này Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng.

Bản án số 65/2018/HS-ST ngày 21-8-2018, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16-4-2018.

Bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo

Ngày 05-9-2018 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép 1,8209g chất ma túy Methamphetamine xảy ra vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 16-4-2018 tại nhà nghỉ Phương An, địa chỉ: số nhà 1A LQĐ, LN, ĐT, Lâm Đồng để sử dụng cho bản thân của bị cáo Nguyễn Văn H. Tại bản kết luận giám định số 630/PC54 ngày 18-4-2018 xác định chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định có khối lượng 1,8209g là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 67 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ.

Bị cáo Nguyễn Văn H là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Trước tình hình tội phạm về ma túy ở địa phương hiện nay rất phức tạp, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Như vậy, bản án mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở; đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồng với mức án 30 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới nên kháng cáo là không có cơ sở để xem xét.

Do vậy, không chấp nhận kháng cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16-4-2018.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ