- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Dương Hữu A tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Tống Văn D"
- Căn cứ chính? Điều 14 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đ t đai; Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2018/ DS-ST Ngày 13 - 11- 2018 V/v “Tranh ch p dân sự về yêu cầu mở lối đi qua b t động sản liền kề” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH
- Th nh ph n H i đ n
h
c :
Th m phán- Ch t a phiên tòa: Bà Trương Thị Bình.
Các H i th m nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trọn;
2. Ông Nguyễn Văn Thản.
- Th ký phi n a: Ông Võ Tu n Anh- Thư ký T a án nhân dân huyện G Dầu, t nh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiể á nhân dân huyện G D u ha ia phi n a: Bà Phạm Thị Kim Dân- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G Dầu x t xử sơ th m c ng khai vụ án thụ lý số 283/2017 TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 201 , về “Tranh ch p dân sự về yêu cầu mở lối đi qua b t động sản liền kề”, theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 86/2018 QĐXXST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2018, gi a các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ông Duong H u A, sinh năm: 194 ; vắng mặt.
Bà Tống Ngọc B, sinh năm: 1962; có mặt.
Cùng địa ch : Tổ 01, p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Đặng T n C, sinh năm: 19 5,
Địa ch : Tổ 0 , p Bến A, xã Thạnh B, huyện G C, t nh Tây D; có mặt.
- Bị đơn:
Ông Tống Văn D, sinh năm: 1965; có mặt.
Chị Tống Thị Đ, sinh năm: 19 2; vắng mặt.
Cùng địa ch : p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đoàn Long E, sinh năm: 19 0.
Địa ch : p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D; có mặt.
- Người làm chứng:
Bà Tống Thị G, sinh năm: 1942; có mặt.
Ông Mai Văn H, sinh năm: 1952; vắng mặt.
Cùng địa ch : p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D.
NỘI DUNG VỤ N:
Theo đơn khởi kiện ngày 26-10-2017 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Tống Ng c B và người đại diện theo y quyền c a nguyên đơn, anh Đặng Tấn C trình bày:
Ông Duong H u A và bà Tống Ngọc B yêu cầu ông Tống Văn D có trách nhiệm di dời, tháo dở một phần căn nhà có diện tích 5,6 m2 (căn nhà có tổng diện tích 14,6 m2) của ng Lộc xây dựng, hiện ng Lộc đang quản lý, sử dụng; yêu cầu chị Tống Thị Đ và anh Đoàn Long E có trách nhiệm di dời, tháo dở một phần mái che có diện tích 9,20 m2 của chị Đ và anh E xây dựng, hiện anh chị đang quản lý, sử dụng, để trả lại cho ng Phước và bà Phượng phần đ t có diện tích 36,4 m2 thuộc thửa 60, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại p Bàu Vừng, xã Phước Trạch, huyện G Dầu, t nh Tây Ninh, đ t đã có gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) số AB 621444 ngày 28-02-2005, do Uỷ ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) huyện G Dầu c p cho ông a và bà B.
Nguồn gốc do ông A và bà B nhận chuyển nhượng của bà Tống Thị G theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 15 tháng 11 năm 2004, có xác nhận của UBND xã Phước Trạch, hai bên đã hoàn t t thủ tục sang tên GCNQSDĐ xong. Khi chuyển nhượng đã có sẵn con đường đi ra Quốc lộ 22B. Năm 2014 ông D xây nhà, chị Đ xây mái che bít lối đi ra hướng quốc lộ 22B. Ông A và bà B yêu cầu ông D, chị Đ và anh E mở lại con đường như trước đây nhưng D, chị Đ và anh E kh ng đồng ý. Ông D, chị Đ và anh E tự ý xây dựng nhà ở, mái che nên phải có trách nhiệm tháo dở, ông A và bà B không bồi thường, hỗ trợ chi di dời, tháo dở c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p.
Bị đơn ông Tống Văn D trình bày:
Ông kh ng đồng ý yêu cầu của ng A và bà B vì ông cho rằng ông là người có quyền sử dụng đ t, kh ng phải đ t của ng A và B.
Đ t có nguồn gốc của cha ông là ông Tống Văn I, sinh năm 1931, chết năm 2012 và mẹ là bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1935, chết năm 1996 để lại. Cha ng đã được UBND huyện G Dầu c p GCNQSDĐ có diện tích 11.145 m2. Sau khi bà R chết, năm 2012 ông I cho ông 323,5 m2 đ t, thửa 63, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D, GCNQSDĐ số vào sổ 00122 QSDĐ 221 2003 QĐ-CT (HL) do UBND c p ngày 06-02-2004 cho ông đứng tên, ông là người trực tiếp sử dụng đ t bao gồm lu n phần đ t tranh ch p từ đó cho đến nay. Ông còn độc thân chưa có lập gia đình nên GCNQSDĐ ch đứng tên mình ông.
Năm 2004, ông chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Kim V phần đ t phía trước có diện tích 152 m2 và đã sang tên GCNQSDĐ cho bà V xong (phần đ t này bà V đã chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Thanh T). Khi cha mẹ c n sống vẫn là đ t trống, nhưng sau khi cha ông cho chị Đ phần đ t phía trong giáp với đ t ông, còn ông chuyển nhượng phần đ t phía trước cho bà V nên chừa một phần làm đường đi ra vì ng và chị Đ ở phía trong, đây là con đường nội bộ của cá nhân ng kh ng phải đường đi c ng cộng. Năm 2013 ông và chị Đ làm đường bê t ng diện tích 1,3m x 20m. Gi a ông và chị Đ thống nh t phần đ t này thuộc quyền sử dụng của ng, kh ng tranh ch p phần đ t này và kh ng tranh ch p số tiền ng và chị Đ bỏ ra bê t ng con đường. Hiện trên đ t tranh ch p có 01 phần căn nhà của ông xây dựng năm 2006. Trước khi chuyển nhượng đ t cho bà B, bà G có sống tại đó nhưng kh ng sử dụng con đường đang tranh ch p vì đ t bà G có con đường đi khác là đường c ng cộng. Tuy ông kh ng đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn nhưng trường hợp phải tháo dở nhà trả đ t, ng kh ng yêu cầu ng A và bà B bồi thường, hỗ trợ chi di dời, tháo dở c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p.
Theo bản tự khai ngày 30-10-2017, biên bản lấy lời khai ngày 14-11-2017 bị đơn chị Tống Thị Đ trình bày:
Chị kh ng đồng ý yêu cầu của ng A và bà B vì đ t tranh ch p là của cha mẹ chị để lại. Năm 2000 cha chị cho chị 249,3 m2 đ t theo GCNQSDĐ số AO 700968 ngày 16-01-2009, do UBND huyện G Dầu c p cho chị, phần đ t của chị ở phía trong giáp với đ t ng D. Chị và ng D đều đã xây dựng nhà ở ổn định trên đ t. Năm 2004 ông D chuyển nhượng một phần đ t phía trước cho bà V, ông D có chừa một phần đ t dùng làm đường đi ra cho ông D và chị vì nhà đ t của chị và ng D ở phía trong kh ng có đường đi ra. Năm 2013 chị và ng D làm đường bê t ng, chi phí hết 8.000.000 đồng. Gi a chị và ng D thống nh t phần đ t này thuộc quyền sử dụng của ng D, chị và ông D kh ng có tranh ch p phần đ t này cũng kh ng tranh ch p số tiền ng D và chị bỏ ra bê t ng con đường. Năm 2005 bà G bán đ t cho bà B nhưng chị kh ng biết có bán diện tích đ t hiện đang tranh ch p. Trước khi bán đ t cho bà B bà G có sống tại đó nhưng kh ng sử dụng con đường vì đ t bà G có con đường đi khác. Tuy chị kh ng đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn nhưng chị kh ng yêu cầu ng A và bà B bồi thường hỗ trợ chi phí di dời, tháo dở c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 24-4-2018 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Long E trình bày:
Anh là chồng chị Đ, hiện anh đang sống chung nhà với chị Đ trên phần đ t được cha vợ cho. Anh kh ng đồng ý yêu cầu của ng A và bà B. Anh thống nh t phần đ t này thuộc quyền sử dụng của ng D, anh không có tranh ch p. Anh kh ng yêu cầu ng A và bà B bồi thường hỗ trợ chi phí di dời dở bỏ c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p nếu phải di dời tài sản để trả đ t.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 01-12-2017 và tại phiên tòa, người làm chứng bà Tống Thị G trình bày:
Bà có chuyển nhượng phần đ t diện tích 80,6 m2, tọa lạc tại p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D cho ông A và bà B, thời gian chuyển nhượng đã lâu bà kh ng c n nhớ, hai bên đã hoàn t t thủ tục sang tên GCNQSDĐ xong. Từ trước khi chuyển nhượng đ t, đã có con đường đi ra quốc lộ 22B. Nguồn gốc con đường có từ khi cha bà c n sống, ng cho bà phần đ t có sẵn con đường, ngoài con đường này kh ng có lối đi nào khác. Hợp đồng chuyển nhượng kh ng thỏa thuận gì về con đường. Thời gian bà sử dụng con đường m y chục năm kh ng ai tranh ch p.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 22-10-2018 người làm chứng ông Mai Văn H trình bày:
Đ t hai bên tranh ch p kh ng phải là đường c ng cộng của nhà nước, đ t có nguồn gốc của cha ng Lộc là ng I để lại cho ông D quản lý sử dụng, ng D chuyển nhượng cho người khác nên chừa một phần làm đường nội bộ đi ra vì ng D ở phía trong, kh ng có đường đi ra. Trước khi chuyển nhượng đ t cho bà B, bà G cũng kh ng sử dụng con đường này. Ông D quản lý, sử dụng đ t nên có sửa ch a, đổ bê t ng con đường.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G Dầu bà Phạm Thị Kim Dân phát biểu:
Về tố tụng: Th m phán chủ tọa phiên t a và các Hội th m tham gia Hội đồng x t xử, Thư ký phiên tòa đã ch p hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại T a án c p sơ th m. Việc ch p hành pháp luật của nh ng người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng x t xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người làm chứng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng x t xử vẫn tiến hành x t xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ng A và bà B. Ông D, chị Đ và anh E phải chịu chi phí định giá và xem xét, th m định tại chỗ tài sản tranh ch p và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem x t tại phiên t a, kết quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng x t xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn chị Tống Thị Đ, người làm chứng ông Mai Văn H, có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng x t xử vẫn tiến hành x t xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng tại phiên t a là phù hợp quy định pháp luật.
Về th m quyền giải quyết: Phần đ t tranh ch p và bị đơn ng Tống Văn D, chị Tống Thị Đ đều ở tổ 06, p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D. Ông Duong H u A và bà Tống Ngọc B có đơn khởi kiện tranh ch p dân sự về yêu cầu mở lối đi qua b t động sản liền kề. Theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc th m quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện G Dầu.
Về yêu cầu của ông A và bà B th y rằng: Nguồn gốc phần đang tranh ch p là do ông A và bà B nhận chuyển của bà G vào năm 2004, hai bên đã hoàn t t thủ tục sang tên GCNQSDĐ xong. Từ trước khi chuyển nhượng đ t bà G đã sử dụng con đường có sẵn lối đi ra quốc lộ 22B. Năm 2006 anh D xây nhà, năm 2013 chị Đ và anh E làm mái che; khi xây dựng anh D, chị Đ và anh E xây bít lối đi hướng quốc lộ 22B. Ông A và bà B yêu cầu mở lại con đường như trước đây nhưng ông D, chị Đ và anh E kh ng đồng ý.
Về kết quả xem xét th m định th m định tại chỗ và định giá tài sản tranh ch p:
Theo biên bản xem x t th m định tại chỗ ngày 03-7-2018: Phần đ t tranh ch p có diện tích 36,4 m2, thuộc thửa 60, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D, tứ cận: Đ ng giáp thửa 60 dài 1,95m, Tây giáp thửa 60 dài 1,5m, Nam giáp thửa 50 và 284 dài 0,9m +20,98m, Bắc giáp thửa 3 dài 19,29m và thửa 51 dài 3,13m. Phần đ t nằm tổng diện tích 58 m2 theo GCNQSDĐ số AB 621444 ngày 28-02-2005 cho ông A và bà B đứng tên. Hiện ng D, chị Đ và anh E đang quản lý, sử dụng.
Tài sản trên đ t gồm: Một phần căn nhà của ng D xây dựng, hiện ng D đang quản lý, sử dụng, có diện tích 5,6 m2 (căn nhà có tổng diện tích 14,6 m2), xây dựng năm 2006, kết c u xây gạch kh ng t , mái tole, nền gạch men, tỷ lệ c n lại 1%; một phần mái che do chị Đ và anh Exây dựng, hiện anh chị đang quản lý, sử dụng, có diện tích 9,20 m2, kết c u khung sắt, mái tole.
Các đương sự thống nh t kh ng tranh ch p tài sản trên đ t.
Về giá đ t: Các đương sự thống nh t tính giá theo biên bản định giá tài sản ngày 21-12-2017 là 1.600.000 đồng m2 x 36,4 m2 = 58.240.000 đồng.
Qua quá trình xác minh ông Tô Minh T - trưởng p Bàu A và tiến hành l y lời khai ng Mai Văn H thì hai ng cho rằng phần đ t hai bên đang tranh ch p do ông I quản lý sử dụng. Ông I chết để lại cho ông D. Do ông D chuyển nhượng đ t cho người khác nên có chừa đ t làm đường nội bộ đi ra đường quốc lộ vì nhà ông Lộc ở phía trong kh ng có đường đi ra. Sau này ông D sửa ch a, đổ bê t ng con đường. Bà G cũng kh ng sử dụng con đường này vì có đường đi riêng là đường c ng cộng. Tuy nhiên, Tòa án tiến hành l y lời khai người làm chứng bà Tống Thị G cho th y ông A và bà B nhận chuyển nhượng của bà, đ t có GCNQSDĐ do bà đứng tên. Hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng, có chứng thực UBND xã Phước B, đã sang tên GCNQSDĐ cho ông A và bà B xong. Từ đó cho th y việc ng D được cho đ t và việc ng D sử dụng phần đ t tranh ch p kh ng có gi y tờ gì c n bà G được c p GCNQSDĐ diện tích 780,6 m2 (trong đó bao gồm 36,4 m2 đ t đang tranh ch p), ông A và bà B nhận chuyển nhượng phần đ t này từ bà G theo hợp đồng chuyển nhượng có UBND xã Phước B xác nhận nên lời trình bày của bà G là có cơ sở xem x t.
X t hồ sơ địa chính do Văn ph ng đăng ký đ t đai t nh Tây Ninh - Chi nhánh huyện G Dầu cung c p cho th y phần đ t ông A và bà A kê khai xin c p GCNQSDĐ số AB 621444 ngày 28-02-2005 cho ông A và bà B đứng tên, có nguồn gốc chuyển nhượng của bà G diện tích 780,6 m2 (bao gồm phần đ t tranh ch p). Nên ông A và bà B yêu cầu ng D, chị Đ và anh E trả cho ng phần đ t diện tích 36,4 m2, thuộc thửa 60, tờ bản đồ số 23, nằm trong GCNQSDĐ do bà B đứng tên là có căn cứ. Ngược lại ng D, chị Đ và anh E cho rằng nguồn gốc đ t do cha ruột là ng I cho ông D. Từ khi nhận đ t, ông D trực tiếp quản lý, sử dụng, xây dựng nhà ở và chị Đ xây dựng mái che trên đ t, kh ng ai ngăn cản. Năm 2009 ng D được UBND huyện Gò Dầu c p GCNQSDĐ diện tích 503,3 m2 (trong đó kh ng bao gồm 36,4 m2 đ t đang tranh ch p). Tuy nhiên ông không có gi y tờ gì chứng minh quyền sử dụng đối với phần đ t đang tranh ch p.
Xét về thời gian c p gi y thì ng D được c p gi y trước ông A, bà B và được c p trước cả bà G (bà G được c p GCNQSDĐ số vào sổ 221 2003 QĐ-CT (HL) ngày 8-9-2004 do UBND huyện G Dầu c p), ông D, chị Đ và anh E cho rằng đ t tranh ch p của ng D nhưng ông D lại kh ng đăng ký c p GCNQSDĐ cho cả phần đ t 36,4 m2 mà ch đăng ký diện tích 323,5 m2. Khi bà G được c p gi y đối với phần đ t này và khi chuyển nhượng qua cho ông A, bà B ông D, chị Đ và anh E cũng kh ng ngăn cản gì. Nên việc ông D, chị Đ và anh E sử dụng đ t thuộc quyền sử dụng của ông A, bà B và xây dựng nhà ở, xây dựng mái che khi kh ng có sự đồng ý của ông A, bà B là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà B nên Hội đồng x t xử ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, bà B, về việc “yêu cầu mở lối đi qua b t động sản liền kề” là phù hợp quy định tại Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Nên cần buộc ng D, chị Đ anh E phải di dời, tháo dỡ c ng trình xây dựng là một phần nhà ở và 01 phần mái che trả quyền sử dụng đ t lại cho ông A, bà B để ng A, bà B tiếp tục dùng làm đường đi là phù hợp.
Ông D, chị Đ và anh E kh ng yêu cầu ng A và bà B bồi thường hỗ trợ chi phí di dời dở bỏ c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p nên kh ng giải quyết.
X t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên ch p nhận.
Chi phí định giá và xem xét, th m định tại chỗ tài sản tranh ch p: Ông D, chị Đ và anh E phải chịu theo quy định tại Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Án phí: Ông D, chị Đ và anh E phải chịu án phí dân sự sơ th m tương ứng với phần yêu cầu của ông A, bà B được T a án ch p nhận theo quy định tại Điều 14 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các l trên,
UY T ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 14 , 228, 229, 2 3 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 166 của Luật Đ t đai 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án.
1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông A bà B đối với ng D, chị Đ và anh E về việc yêu cầu mở lối đi qua b t động sản liền kề.
Buộc ông D có trách nhiệm di dời, tháo dở 01 phần nhà ở một phần căn nhà của ông D xây dựng, hiện ng D đang quản lý, sử dụng, có diện tích 5,6 m2; buộc chị Đ và anh E có trách nhiệm di dời, tháo dở 01 phần mái che do chị Đ anh E xây dựng, hiện anh chị đang quản lý, sử dụng, có diện tích 9,20 m2 để trả lại cho ông A bà B phần đ t 36,4 m2, thuộc thửa 60, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại p Bàu A, xã Phước B, huyện G C, t nh Tây D, nằm trong tổng diện tích đ t 58 m2 do UBND huyện G Dầu c p GCNQSDĐ số AB 621444 ngày 28-02-2005 cho ông A bà B, tứ cận: Đ ng giáp thửa 60 dài 1,95m, Tây giáp thửa 60 dài 1,5m, Nam giáp thửa 50 và 284 dài 0,9m +20,98m, Bắc giáp thửa 3 dài 19,29m và thửa 51 dài 3,13m để ng A và bà B tiếp tục dùng làm đường đi là phù hợp. (có sơ đồ bản v kèm theo).
Ông D, chị Đ và anh E kh ng yêu cầu ng A và bà B bồi thường, hỗ trợ chi phí di dời, tháo dở c ng trình c ng xây dựng trên lối đi đang tranh ch p nên ghi nhận.
Kể từ khi ông A, bà B có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng ng D, chị Đ và anh E c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Chi phí định giá và xem x t th m định tại chổ tài sản tranh ch p: Ông D, chị Đ và anh E phải chòu 10.000.000 ñoàng. Ông D, chị Đ và anh E phải có trách nhiệm trả lại cho ông A, bà B số tiền 10.000.000 đồng mà ông A, bà B đã nộp chi phí định giá, xem x t th m định tại chổ tài sản tranh ch p.
3. Án phí dân sự sơ th m: Ông D phải chịu 2.176.000 (hai triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn) đồng. Chị Đ, anh E phải chịu 736.000 đồng (bảy trăm ba mươi sáu ngàn). Ông A, bà B kh ng phải chịu tiền án phí dân sự sơ th m nên được nhận lại 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0012698 ngày 26-10-2017 và biên lai thu số 0013219 ngày 19-3-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G Dầu.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại đièu 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ th m. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên t a thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. N i nhận:
| - TAND t nh Tây Ninh; - VKSND t nh Tây Ninh; - VKSND huyện G Dầu; - CC THADS huyện G Dầu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Bình |