- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2017/HSST Ngày 25/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Trung
2. Bà Tô Thị Bích Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Đỗ Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2017/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2017/HSST ngày 11/12/2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn T - Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1981, tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 7/12 - Nghề nghiệp: không. Họ và tên bố: Đặng Văn M - Sinh năm: 1944. Họ và tên mẹ: Vũ Thị Q – Sinh năm: 1949 (đã chết). Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ tư. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Ngày 16/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều) xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/7/2015. Tiền sự: Ngày 26/10/2009, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều) ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục – Lao động thương binh và xã hội Vũ Oai – Hoành Bồ. Hiện tại T vẫn chưa chấp hành. Nhân thân: Ngày 26/10/2005, bị đưa vào cơ sở giáo dục đến ngày 15/8/2007 về địa phương. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 06/11/2017, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn C – Sinh năm 1984. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 09 giờ ngày 06/11/2017, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 14K7 – 4416 đi từ nhà đến khu vực cổng chợ M, thị xã Đ, tỉnh Q. Tại đây, T nhờ một người đàn ông không quen biết mua hộ T 200.000 (hai trăm nghìn) đồng ma túy (loại Heroine), để sử dụng. Người đàn ông này đồng ý và cầm tiền của T rồi bỏ đi, còn lại T đi vào quán nước chè ngồi đợi. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại gặp và đưa cho T 01 (một) vỏ bao thuốc lá loại Bông Sen màu trắng đỏ, bên trong có 04 (bốn) gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng, T cầm rồi cất giấu toàn bộ số ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục ngồi ở quán nước chơi. Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, Công an phường M, thị xã Đ kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải của T đang mặc 01 (một) vỏ bao thuốc lá loại Bông Sen, bên trong có 04 (bốn) gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 726/GĐMT ngày 09/11/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M4 là ma túy, loại Heroine, trọng lượng lần lượt là:
M1: 0,072g (không phẩy không bẩy hai gam);
M2: 0,063g (không phẩy không sáu ba gam);
M3: 0,01g (không phẩy không một gam);
M4: 0,068g (không phẩy không sáu tám gam).
Tổng trọng lượng là 0,303g (không phẩy ba không ba gam).
(Heroine nằm trong danh mục I, STT: 20 Nghị định 82/NĐ – CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.)
Bản cáo trạng số 87/KSĐT - HS ngày 27/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Đặng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 - điều 194 – Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cất giấu ma túy để sử dụng, bị bắt quả tang, kết quả giám định là Heroine có trọng lượng 0,303g (không phẩy ba không ba gam). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 - Điều 194; Điểm g – khoản 1 – Điều 48; Điểm p - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T từ 30 đến 36 tháng tù. Áp dụng điểm c - khoản 1 - điều 41 – Bộ luật hình sự, điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,04g (không phẩy không bốn gam) Heroine hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 726/GĐMT; Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại hiệu Masstel, màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T có lời khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo thể hiện:
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 06/11/2017, tại khu vực cổng chợ M, thuộc khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q, Đặng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) gói ma túy, loại Heroine, có trọng lượng 0,303g (không phẩy ba không ba gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Người làm chứng là anh Nghiêm Đình T và anh Nguyễn Huy D có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bắt quả tang bị cáo cùng tang vật và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn C có lời khai phù hợp lời khai của bị cáo về việc sáng ngày 06/11/2017, T có mượn của anh C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, biển kiểm soát 14K7 – 4416, anh C không biết T sử dụng xe của anh đi mua ma túy.
Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra; Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản luận tội của Kiểm sát viên là đúng, không tranh luận gì. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1- Điều 194 - Bộ luật hình sự.
Điều 194 - Bộ luật hình sự quy định:
..."1. Ngư i nào tàng trữ, vận chuy n, mua bán trái phép ho c chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù t hai năm đến b y năm.” ...
Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền nhà nước về quản lý các chất gây nghiện là khách thể quan trọng luôn được pháp luật đề cao và bảo vệ.
Về chủ thể, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp luật.
Về mặt chủ quan, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về mặt khách quan, bị cáo đã cất giấu trái phép 0,303g (không phẩy ba không ba gam) chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Như chúng ta đã biết, ma túy là nguyên nhân làm lây lan đại dịch HIV/AIDS, và là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm, trong khi Nhà nước và cộng đồng đang nỗ lực tìm mọi biện pháp ngăn chặn, nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy thì hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho tội phạm về ma túy, gây mất trật tự xã hội. Nên cần xử phạt nghiêm, phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân: Ngày 16/9/2009, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều) xử phạt 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Ngày 26/9/2009, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều) ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục – Lao động thương binh và xã hội Vũ Oai, Hoành Bồ (hiện tại T chưa chấp hành); Trước đó, ngày 26/5/2005 T đã bị đưa vào cơ sở giáo dục đến ngày 15/8/2007 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g – khoản 1 – Điều 48 – Bộ luật hình sự, cần xử phạt nghiêm theo hướng tăng nặng hình phạt. Tuy nhiên cũng xét quá trình khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p - khoản 1 - Điều 46 - Bộ luật hình sự. Mặt khác, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 và khoản 3 – Điều 7 – Bộ luật hình sự 2015 quy định các tình tiết có lợi cho người phạm tội phải được áp dụng trước khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực thi hành; Đồng thời điều 249 – Bộ luật hình sự 2015 quy định:
“1. Ngư i nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, s n xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trư ng hợp sau đây thì bị phạt tù t 01 năm đến 05 năm:
....
c) Hêrôin, Coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng t 0,1gam đến dưới 05gam.”
Nên giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt.
Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về vật chứng của vụ án: 0,04g (không phẩy không bốn gam) chất ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Bông Sen màu trắng đỏ, là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan điều tra hiện tạm giữ của bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Masastel màu đen, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo còn có người đàn ông đi mua ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 14K7 – 4416 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Đông Triều tách ra để điều tra làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Khoản 1 - Điều 194; Điểm g – khoản 1 – Điều 48; Điểm p - khoản 1 - Điều 46 – Bộ luật Hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; Khoản 1 - Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
Xử phạt: Đặng Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 06/11/2017.
2.Áp dụng: - Điểm c - khoản 1 - Điều 41 – Bộ luật hình sự;
- Điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,04g (không phẩy không bốn gam) ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định, trong 01 (một) phong bì số 726/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
Trả lại Đặng Văn T 01 (một) điện thoại Mastel, màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng theo Biên b n giao nhận vật chứng số 22 ngày 29/11/2017 giữa Cơ quan c nh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều)
3.Về án phí: - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Điều 99 - Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Qu ng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Qu ng Ninh; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Văn Giới |