vanban.org

Bản án 81/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 03/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

. Tuyên bố bị cáo Tố ng Quang H phạm các tội “ Đánh bạc” và “Gá bạc” ; các bị cáo Nguyễn Văn B , Đà o Tuấ n Kh , Nguyễ n Xuân Ng , Nguyễ n Duy V , Tạ Hữ u Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: * Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248, khoản 1, 3 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33, Điều 50 Bộ luật hình sự; Điề u 228 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Xử phạt bị cáo Tố ng Quang H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, và 12 tháng tù về tội “Gá bạ c” . Tổng hợp hình phạt buộc Tố n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc&gá bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? . Tuyên bố bị cáo Tố ng Quang H phạm các tội “ Đánh bạc” và “Gá bạc” ; các bị cáo Nguyễn Văn B , Đà o Tuấ n Kh , Nguyễ n Xuân Ng , Nguyễ n Duy V , Tạ Hữ u Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2017/HSST
Ngày 03/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Thanh Bì nh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễ n Bỉ nh Thá i

2. Bà Lê Thị Xuân.

- Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên toà:

Ông Lê Mạ nh Tuấ n - Kiểm sát viên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thành Cương.

Ngày 03 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2017/TLST-HS ngày 02/6/2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2017/HSST- QĐ ngày 19/6/2017, đối với các bị cáo:

1. Tố ng Quang H, sinh năm 1978 (tên gọi khác: không); nơi ĐKHKTT: Khu 3, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiệ n nay : thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Quản lý nhà nghỉ; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Tố n g Quang Kh, sinh năm 1953 (đã chế t), và bà Nguyễn Thị Đ , sinh năm 1953; Có vợ Nguyễ n Thị V, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2003; Tiề n á n, tiề n sự : không. Bị cáo bị bắt tạm giữ , tạm giam từ ngày 22/3/2017 đến ngày 05/5/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Bả o lĩ nh”. Ngày 05/6/2017 bị bắt và tạm giam theo lệ nh bắ t tạ m giam của Tòa án nhân dân huyện T cho đế n nay. Hiệ n đang tạ m giam tạ i Nhà tạm giữ Công an huyện T – Có mặt tạ i phiên tò a.

2. Nguyễ n Văn B, sinh năm 1990 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã A, huyệ n T, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiệ n nay: Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh ; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đức V , sinh năm 1960; và bà Nguy ễn Thị N , sinh năm 1964; Vợ , con: chưa có ; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Nhân thân: Ngày 22/4/2011 bị Công an phườ ng T, thị xã T xử phạ t hì nh chí nh v ề hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiề n, đã chấ p hà nh xong ngà y 13/12/2011; ngày 12/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyệ n T xử phạ t 03 tháng 04 ngày tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 07/12/2012. Bị cáo bị bắ t tạ m giữ , tạm giam từ ngà y 22/3/2017 cho đế n nay. Hiệ n đang tạ m giam tạ i Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

3. Đà o Tuấ n Kh, sinh năm 1982 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đà o Tuấ n L, sinh năm 1960; và bà Nguyễn Thị D , sinh năm 1960; Có vợ là Đào Thị B, sinh năm 1982; Có 02 con, lớ n sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ” . Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễ n Xuân Ng, sinh năm 1991 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT: T, thị trấn H, huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn; Chỗ ở hiệ n nay: Thôn D, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Bắ c Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1963; và bà Trầ n Thị Bí ch H, sinh năm 1974; Có vợ chị La Thị Th, sinh năm 1993; Có 01 con sinh năm 2013; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắ t tạ m giữ từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay th ế biện pháp ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ”. Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tòa.

5. Bùi Văn Q, sinh năm 1989 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT: Xóm S, xã Ngh, huyệ n L, tỉnh Bắc Giang ; Chỗ ở hiệ n n ay: Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắ c Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Bùi Văn Q, sinh năm 1963; và bà Nguyễ n Thị H, sinh năm 1967; Có vợ chị Vi Thị Lan H, sinh năm 1997; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ” . Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tò a.

6. Nguyễ n Duy V , sinh năm 1984 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn D, xã Đ, huyệ n T, tỉnh B; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễ n Duy H, sinh năm 1963; và bà Nguyễ n Thị L , sinh năm 1964; Có vợ chị Nguyễ n Thị T r, sinh năm 1988; Có 02 con, lớ n sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiề n á n , tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạ m giữ từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ”. Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tòa.

7. Tạ Hữu Th, sinh năm 1993 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn L, xã V, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Tạ H ữu T, sinh năm 1964; Con bà Tạ Thị T , sinh năm 1968; Vợ , con: chưa có ; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “C ấm đi khỏi nơi cư trú” . Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tòa.

8. Tạ Hữu T, sinh năm 1993 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn L, xã V, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Tạ Hữu T, sinh năm 1966; Con bà Nguyễ n Thị Ch, sinh năm 1964; Vợ , con: chưa có ; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ” . Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt tại phiên tòa.

9. Nguyễ n Đăng Tr, sinh năm 1987 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn Ng, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễ n Đăng Đ , sinh năm 1965; Con bà Dương Thị C , sinh năm 1964; Có vợ chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; Có 03 con, lớ n sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2017 đến ngày 28/3/2017 đượ c thay thế biệ n phá p ngăn chặ n “Cấ m đi khỏ i nơi cư trú ”. Hiệ n đang tạ i ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngà y 22/3/2017, B và Kh rủ nhau đến đến nhà nghỉ 6666 tại thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ni nh để đá nh bạ c . Khi đi B điề u khiể n chiế c xe máy Honda Vision, màu vàng BKS 19K1-236.31 để đến nhà nghỉ . Lát sau K h sử dụng chiếc điện thoại di động Samsung Y ateley GU466GK.UK gọ i và o điệ n thoạ i di dộ ng Oppo Neo (A33w) của B hỏi đang ở đâu, có đánh bạc nữ a không? Sau khi biế t B đang ở n hà nghỉ, Kh gọi điệ n thoạ i cho Ng, Q rủ đến nhà nghỉ 6666 đá nh bạc. Khoảng 10 giờ cù ng ngà y, Kh điề u khiể n xe má y Honda WaveRS, màu đỏ đen bạc BKS 99Z2-1972, Ng điề u khiể n xe má y Yamaha Exciter, màu xanh - trắng BKS 12H1-142.24, Q điề u khiể n xe má y kiểu dáng xe Dream, màu nâu BKS 20H3-4163 để đến nhà nghỉ. Tại đây B, Q, Ng, Kh đặ t vấ n đề vớ i H là quản lý nhà nghỉ thuê 01 phòng đánh bạc và rủ H tham gia cù ng. Do trướ c đó có đánh bạc với B mộ t số lầ n nên H đồ ng ý cho thuê phò ng 401 tại tầng 04 của nhà nghỉ . Ng liề n điề u khiể n xe má y củ a mì nh ra cử a hà ng tạ p hó a mua 02 bộ tú lơ khơ. Cả bọn gồ m H, B, Kh, Ng, Q tụ tập quây tròn trên chiếc giường của phòng 401, sử dụ ng bộ bà i tú lơ khơ để đá nh bạ c bằ ng hì nh thứ c chơi liêng , ăn thua bằ ng tiề n ngân hà ng nhà nướ c Việ t Nam và thỏa thuận nếu có sáp thì bỏ ra 100.000 đồ ng hoặc có liêng đồng chất thì bỏ ra 50.000 đồ ng đưa cho Hoà n và khi kế t thú c việ c đá nh bạ c, ngườ i nà o thắ ng sẽ trả tiền phòng.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút thì H không chơi nữ a, chỉ còn , Kh, Ng và Q vẫn tiếp tục chơi. Quá trình đánh bạc B có sử dụ ng điệ n thoạ i gọ i cho Th đến nhà nghỉ 6666 đánh bạc. Th đồ ng ý và rủ thê m T cùng đi. Sau đó, cả hai bắt xe ôm đến nhà nghỉ 6666. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì Th, T đến nơi. Lúc đó còn có V điều khiển xe má y Wave RS, màu đỏ đen BKS: 99Z1 - 0832 đến nhà nghỉ 6666. Th, T, V tham gia đá nh bạc cùng với nhóm của B. Tiếp đó, đến khoảng 16 giờ cùng ngày có Tr điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh - đen, BKS: 99Z1 – 9069 cũng đến nhà nghỉ 6666 tham gia đánh bạc cùng nhóm của B.

Khi tham gia đá nh bạ c Ng mang theo số tiền là 800.000 đồng, B mang theo số tiền 8.000.000 đồng, Kh mang theo số tiền là 4.500.000 đồng, Q mang theo số tiề n 560.000 đồng, H mang theo số tiền là 3.200.000 đồng, V mang theo số tiền là 20.147.000 đồng, T mang theo số tiền là 5.500.000 đồng, Th mang theo số tiền là 2.000.000 đồng, Tr mang theo số tiền là 150.000 đồng. Quá trình đánh bạc T nộ p 100.000 đồ ng, B và Q mỗ i ngườ i nộ p 50.000 đồ ng tiề n hồ đưa cho H như đã thỏ a thuậ n trướ c đó . Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện T kiể m tra phá t hiệ n, bắt quả tang. Cơ quan công an thu giữ :

- 46.470.000 đồng tiề n ngân hà ng nhà nướ c Việ t Nam . Trong đó thu trên chiế u bạ c là 6.820.000 đồng; thu trên người: V 19.000.000 đồng, B 8.000.000 đồng, T 4.500.000 đồng, Th 1.950.000 đồng, Q 400.000 đồng, Kh 2.600.000 đồng, H 3.200.000 đồng.

- 02 bộ bài tú lơ khơ.

- Thu giữ của B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo NEO(A33W) màu đen kèm theo simcard; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu vàng, BKS: 19K1-236.31 kèm theo chì a khó a;

- Thu giữ của Kh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Yateley GU466GK.UK kèm theo simcard; 01 xe máy nhãn hiệu Honda WaveRS, màu đỏ - đen - bạc, BKS: 99Z2 – 1972 kèm theo chìa khóa;

- Thu giữ củ a V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy V(SM-G313HZ), màu đen – Bạc, kèm theo simcard; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen, BKS: 99Z1 – 0832 kèm theo chìa khóa.

- Thu giữ củ a Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone6 Plus, màu vàng, kèm theo simcard;

- Thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu hồng kèm theo simcard;

- Thu giữ của Tr 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh - đen, BKS: 99Z1 - 9069 kèm theo chìa khóa xe và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 màu vàng trắng kèm theo simcard;

- Thu giữ củ a Ng 01 chiế c xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh - trắng, BKS: 12H1 - 142.24, kèm theo chìa khóa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, kèm theo simcard;

- Thu giữ của Q 01 xe máy kiểu dáng xe Dream, màu nâu, BKS: 20H3 - 4163, kèm theo chìa khóa;

Sau khi thu tiề n hồ 200.000 đồ ng H đã kẹ p ở trong quyể n sổ ghi ché p khá ch ra và o và để tại quầy lễ tân của nhà nghỉ. Tối ngày 22/3/2017, ông Nguyễn Thương Th là chủ nhà nghỉ 6666 đã giao nộ p cho cơ quan Công an số tiề n trên

. Ngày 23/3/2017, chị Vi Thị Lan H là vợ Q đã tự nguyệ n giao nộ p chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh xám bên trong nắ p simcard.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H khai nhậ n: Sáng ngày 22/3/2017 bị cáo là quản lý nhà nghỉ 6666 có cho các bị cáo Kh , Q, Ng, B thuê phòng 401 để đánh bạc. Bị cáo cũng tham gia đánh bạc khoảng một tiếng. Khi tham gia đá nh bạ c bị cáo có 3.200.000 đồ ng, thu tiề n hồ 200.000 đồ ng. Quá trình Công an phát hiện có thu giữ của bị cáo 3.200.000 đồ ng.

Các bị cáo B, Ng, Q, Kh lầ n lượ t cù ng khai nhậ n tạ i phiên tò a: Sáng ngày 22/3/2017 có đến nhà nghỉ 401 thuê mộ t phò ng để đá nh bạ c bằ ng hì nh thứ c chơi liêng. Các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc rủ nhau đi đánh bạc . Sau khi thố ng nhấ t cá c bị cá o mỗ i ngườ i đi xe má y cá nhân đến nhà nghỉ 6666. Khi tham gia đá nh bạc bị cáo Ng có 800.000 đồng, B có 8.000.000 đồng, Kh có 4.500.000 đồng, Q có 560.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện, thu giữ tại sới bạc và trên người các bị cáo 46.470.000 đồng cùng một số xe má y và điệ n thoạ i di độ ng.

Tại phiên tò a cá c bị cá o T , Th, V, Tr lầ n lượ t cù ng khai nhậ n : Chiề u ngà y 22/3/2017 các bị cáo T, Th bắ t xe ôm, bị cáo V, Tr điề u khiể n xe má y đế n nhà nghỉ 6666 để tham đán h bạ c cù ng cá c bị cá o B , Ng, Q, Kh. Bị cáo Th do bị cá o B gọi đến, các bị cáo V, Tr thì bị cáo Kh rủ từ sáng sau k hi tan giờ là m việ c tại công ty. Tham gia đá nh bạ c V có 20.147.000 đồng, T có 5.500.000 đồng, Th có 2.000.000 đồng, Tr có 150.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện , thu giữ tạ i sớ i bạ c và trên ngườ i cá c bị cá o 46.470.000 đồng cùng một số xe má y, điệ n thoạ i di độ ng.

Bản cáo trạng số 61/2017/CTr-VKS ngày 31/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Tố ng Quang H về các tội “ Đá nh bạc” theo khoản 1 Điều 248 và tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điề u 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B , Đà o Tuấ n Kh , Nguyễ n Xuân Ng , Nguyễ n Duy V, Tạ Hữu Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số 61/CTr- VKS ngày 31/5/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Tố ng Quang H phạm các tội “Đá nh bạ c” và “Gá bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn B , Đà o Tuấ n Kh , Nguyễ n Xuân Ng , Nguyễn Duy V , Tạ Hữu Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248 và khoản 1, khoản 3 Điều 249, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS . Xử phạt: Tống Quang H từ 12 đến 14 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng về tội “gá bạc”, từ 06 – 08 tháng tù về tội “đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng. Áp dụng Điều 50 BLHS, tổng hợp hình phạt chính đối với hai tội là từ 18 – 22 tháng tù (Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/6/2017 và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2017 đến ngày 05/5/2017. Tổng hợp hình phạt bổ sung là từ 08 – 12 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS . Xử phạt: Nguyễn Duy V từ 10 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 – 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46; Áp dụng Nghị quyết 109/2015/QH13 của Quốc hội khóa 13 và Nghị Quyết 144/2016/QH13 của Quốc Hội khóa 13 về việc áp dụng các tình tiết có lợi cho bị cáo theo Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Bằng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là con của người có công với cách mạng” quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Điều 33 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Văn B từ 08 đến 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 22/3/2017). Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS . Đề nghị Hội đồng xét xử: Phạt bị cáo: Đào Tuấn Kh từ 08 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 – 20 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1 Điều 46, Áp dụng Nghị quyết 109/2015/QH13 của Quốc hội khóa 13 và Nghị Quyết 144/2016/QH13 của Quốc Hội khóa 13 về việc áp dụng các tình tiết có lợi cho bị cáo theo Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Th được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ người phạm tội là con của người có công với cách mạng” quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, Điều 60 BLHS. Xử phạt: Tạ Hữu Th từ 06 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS. Xử phạt: Tạ Hữu T từ 06 đến 8 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1 Điều 46, Điều 60 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Xuân Ng từ 06 đến 8 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p, h khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 60 BLHS. Xử phạt: Bùi Văn Q từ 05 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo từ 3 đến 5 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1, Điều 248, điểm p, h khoản 1 Điều 46, Điều 30 BLHS. Phạt tiền bị cáo: Nguyễn Đăng Tr từ 05 đến 07 triệu đồng.

Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 41 BLHS, điều 76 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ, loại 52 quân bài, 01 bộ có mặt phía sau màu xanh - trắng, 01 bộ có mặt phía sau màu đỏ - trắng)

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền đánh bạc: 46.470.000 đồng và số tiền hồ 200.000đồng.

- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO(A33W) màu đen, số IMei1: 860739031482310, số IMei2: 860739031482302, đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Văn B): 01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung YATELEY GU466GK.UK, số IMei: 355079083553789, màu vàng, đã qua sử dụng( Thu giữ của Đào Tuấn Kh); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, số IMei: 35567307140670, đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Xuân Ng); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu Xanh - Xám, số seri 351976046811523, đã qua sử dụng (Thu giữ của Bùi Văn Q).

- Trả lại bị cáo Tạ Hữu Thanh 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone6 Plus, màu hồng, số IMei: 353331078377936, đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Duy V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy V, (SM-G313HZ)màu đen – Bạc, số IMei: 35472810615806638, đã qua sử dụng; 01xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu Đỏ - Đen, BKS: 99Z1 - 0832, số khung: RLHHC12248Y513036, số máy: HC12E - 0538991, kèm theo chìa khóa xe, đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Đăng Tr: 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh - đen, BKS: 99Z1 - 9069, số khung: bị mờ, số máy: JF18E - 5301933, kèm theo chìa khóa xe, chiếc xe đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6, màu vàng - trắng, số IMei: 358363061549622, đã qua sử dụng (Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

-Trả lại bị cáo Bùi Văn Q: 01 xe máy kiểu dáng xe Dream, màu Nâu, BKS: 20H3 - 4163, số khung: G0011A*003898, số máy: FMG 3*20006271, kèm theo chìa khóa xe, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân Nguyên: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh - trắng, BKS: 12H1 - 142.24, số khung: 391476, số máy: 55P1- 391485, kèm theo chìa khóa xe.

-Trả lại bị cáo Đào Tuấn Kh: 01 xe máy nhãn hiệu Honda WaveRS, màu đỏ

- đen - bạc, BKS: 99Z2 - 1972, số khung: RLHJC4323AY241117, số máy: JC43E - 5717061, kèm theo chìa khóa xe, đã qua sử dụng.

Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, và các vấn đề khác. Bị cáo H đã nhận thức được hành vi “Gá bạc” và “Đánh bạc” và các bị cáo còn lại đã nhận thức được hành vi “Đánh bạc” của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bắc Ninh thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo H đủ yế u tố cấ u thà nh 02 tộ i “Đá nh bạ c” và “ Gá bạ c” quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 248 và khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự ; hành vi của các bị cáo Nguyễ n Văn B , Đà o Tuấ n Kh, Nguyễ n Xuân Ng, Nguyễ n Duy V, Tạ Hữu Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “Đánh bạc” quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 248 Bộ luậ t hì nh sự . Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người , đú ng tộ i, đú ng pháp luật.

Nguyên nhân dẫ n đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a cá c bị cá o x uấ t phá t từ việ c lườ i lao độ ng, muố n kiế m tiề n bằ ng cá ch sát phạt, ăn thua bằ ng tiề n ngân hà ng nhà nướ c Việ t Nam. Tuy nhiên các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công người canh gác, người phục vụ nên thuộ c trườ ng hợ p đồ ng phạ m giả n đơn. Tuy nhiên có thể thấ y bị cáo H có vai trò lớn nhất, vì hám lợi đã cho các con bạc sát phạt tại nơi mình quản lý và trự c tiế p tham gia đá nh bạ c. Tiế p đó đến vai trò các bị cáo B, Kh lôi ké o, rủ rê các bị cáo khác đánh bạc . Bị cáo Ng là người chuẩn bị dụng cụ trực tiếp cho việc đánh bạc. Các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau khi tham gia đá nh bạ c.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn là một loại tệ nạn xã hội, lôi kéo nhiều người tham gia, gây mất trật tự trị an và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như: Cướp tài sản, trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng và cho vay nặng lãi … gây bất bình trong quần chúng nhân dân và dư luận không tốt tại địa phương, nên cần có một hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã phạm, mới có tác dụng giáo dục riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần giữ gìn trật tự tại địa phương và tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân thì thấy, các bị cáo H, Kh, Ng, Th, T, Tr, V, Q là người lao động, có nhân thân tốt , không có tiền án tiề n sự . Đối với bị cáo B ngày 22/4/2011 bị Công an phường T, thị xã T xử phạt hành chính bằ ng hì nh thứ c phạ t tiề n về hành vi “ Trộm cắp tài sản” và ngày 12/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 03 tháng 04 ngày tù về tộ i “Đá nh bạ c” . Tính đến nay không coi là tiền án , tiề n sự nhưng cầ n đá nh giá về nhân thân bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên cá c bị cá o đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ qu y đị nh tạ i điể m p khoả n 1 Điề u 46 Bộ luậ t hình sự. Các bị cáo Kh , Ng, Q, V, Th, T, Trọng lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hì nh sự quy đị nh tạ i điể m h khoả n 1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự . Bố đẻ bị cáo B ông Nguyễ n Đứ c V là bệ nh binh, bố đẻ bị cá o Th ông Tạ Hữ u T là thương binh, căn cứ điể m g , e khoả n 1 Điề u 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với c ách mạng năm 2005 thì ông V, ông T là người có công với cách mạng . Vì vậy cần áp dụng Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP ngà y 30/6/2016 của Hộ i đồ ng thẩ m phá n Tò a á n nhân dân tố i cao cầ n á p dụ ng tình tiết giảm nhẹ quy đị nh tạ i điể m x khoả n 1 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự 2015 đố i vớ i cá c bị cáo B, Th là có căn cứ . Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo V, Kh, Q, T tự nguyện nộp 3.200.000đ tiền phạt và án phí nên các bị cáo V, Kh, Q, T hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự .

Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hộ i đồ ng xét xử thấy bị cáo H vì hám lợ i đã cho cá c bị cá o khá c thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i nơi mì nh quả n lý và trự c tiế p tham gia đá nh bạ c . Bị cáo B nhân thân xấ u, các bị cáo đều thể hiệ n sự c oi thườ ng pháp luật nên cầ n thiế t phả i cá ch ly cá c bị cá o H, B ra khỏ i xã hộ i thờ i gian mớ i có tác dụng giáo dục. Đối với các bị cáo Kh, Ng, Q, V, Th, Th có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo đủ điểu kiện để hưởng án treo. Vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Tr có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hơn nữa, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là 150.000đ. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

Các bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

Vật chứng: Trong quá trình phạm tội các bị cáo sử dụ ng số tiề n 46.670.000 đồng để đánh bạc. Ngoài ra các bị cáo Kh , Q, Ng, B có sử dụng điện thoại di động để liên lạ c, rủ rê bị cáo khác tham gia đánh bạc , phục vụ trong quá trình phạm tội nên cầ n tị ch thu sung công . Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo Th sử dụ ng để liên lạ c với bị cáo B là tài sản hợp pháp của anh Tạ Hữu Ph. Do anh Ph không biế t bị cáo Th sử dụ ng để liên lạ c đi đá nh bạ c nên Cơ quan đ iề u tra đã trả cho anh Ph là phù hợp. Đối với chiế c điệ n thoạ i củ a Tr , V, T không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên cầ n trả lạ i cá c bị cá o tà i sả n trên nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.

Ngoài ra các bị cáo Kh, Ng, Q, Tr, V có điề u khiể n xe má y củ a bả n thân đế n nhà nghỉ 6666 để đánh bạc. Tuy nhiên quá trì nh điề u tra chưa xá c đị nh đượ c cá c bị cáo sử dụng tài sản trên vào việc đánh bạc nên cần trả lại các bị cáo nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n . Chiế c xe má y bị cá o B điề u khiể n đế n nhà nghỉ 6666 xác định chủ sở hữ u là chị Nguyễn Thị Thúy V. Khi bị cá o B mượ n xe chị V không biế t mụ c đí ch để đi đánh bạc nên Cơ quan điề u tra đã trả lạ i chiế c xe má y là phù hợ p. Đối với 02 bộ tú lơ khơ là công cụ để các bị cáo đánh bạc giá trị sử dụng thấp nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y.

Liên quan trong vụ á n có ông Nguyễn Thương Th là chủ của nhà nghỉ 6666. Do tin tưởng nên đã giao cho H làm quản lý nhà nghỉ trên. Khi H cho nhóm của B thuê phòng của nhà nghỉ để đánh bạc và H trực tiếp đánh bạc cùng các đối tượng, có thu tiền hồ thì ông Th không biết, không liên quan đến việc này. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với việc B và H đã khai có cùng nhau đánh bạc một số lần trước đó. Do thời gian đã lâu, B và H không nhớ được địa điểm chơi cũng như tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, của những người cùng chơi, số tiền đã chơi. Do vậy, chưa có căn cứ để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Nguyễn Thị Ý Như H là nhân viên dọn ph òng của nhà nghỉ 6666. Ngày 22/3/2017 chị có gặp các bị cáo tại nhà nghỉ nhưng không biết họ đến thuê phòng để đánh bạc. Do vậy không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.. Tuyên bố bị cáo Tố ng Quang H phạm các tội “ Đánh bạc” và “Gá bạc” ; các bị cáo Nguyễn Văn B , Đà o Tuấ n Kh , Nguyễ n Xuân Ng , Nguyễ n Duy V , Tạ Hữ u Th, Tạ Hữu T, Bùi Văn Q, Nguyễ n Đăng Tr phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248, khoản 1, 3 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33, Điều 50 Bộ luật hình sự; Điề u 228 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Xử phạt bị cáo Tố ng Quang H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, và 12 tháng tù về tội “Gá bạ c” . Tổng hợp hình phạt buộc Tố ng Quang H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2017, đượ c trừ đi thờ i gian tạ m giữ, tạm giam từ ngà y 22/3/2017 đến ngày 05/5/2017.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điề u 228 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự và Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP ngà y 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điể m x khoả n 1 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 8 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2017.

Tạm giam các bị cáo H, B mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự;

Xử phạt cá c bị cáo Nguyễ n Duy V 10 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thá ch 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt cá c bị cáo Đà o Tuấ n Kh 8 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt cá c bị cáo Tạ Hữu T 6 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt cá c bị cáo Bùi Văn Q 5 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thá ch 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Ng 6 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP ngà y 30/6/2016 của Hộ i đồ ng thẩ m phá n Tò a á n nhân dân tố i cao, điể m x khoả n 1 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự 2015.

Xử phạt bị cáo Tạ Hữu Th 6 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bị cáo Tố ng Quang H 3 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, và 5 triệu đồng về tội “Gá bạc” . Tổng số tiền phạt bổ sung 8 triệu đồng sung công quỹ nhà nướ c. Phạt bổ sung các bị cáo V, Kh, Ng, Q, Th, T mỗi bị cáo 3 triệu đồng sung công quỹ nhà nướ c.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Đăng Tr 5 triệu đồng xung công quỹ Nhà Nước.

Giao bị cáo Kh, V cho UBND xã Đ, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh ; bị cáo Th , T cho UBND xã V huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; bị cáo Ng cho UBND thị trấ n H , huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn; bị cáo Q cho UBND xã Ng , huyệ n L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

4. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung công Nhà nước: 46.670.000 đồng tiề n Ngân hà ng N hà nước Việ t Nam; 01 chiế c điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Yateley GU466GK.UK, màu vàng , số IMEI 355079083553789, đã qua sử dụ ng của bị cáo Kh ; 01 chiế c điện thoại di động nhã n hiệ u Nokia

1202, màu xanh xám, số seri : 351976046811523, đã qua sử dụ ng của bị cáo Q ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, số Imei: 355673071406701, đã qua sử dụ ng củ a bị cáo Ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo NEO(A33W) màu đen, số Imei 1: 860739031482310, Imei2: 860739031482302, đã qua sử dụng của bị cáo B;

- Tịch thu tiêu hủ y: 02 bộ bài tú lơ khơ loạ i 52 quân, 01 bộ bà i mà u xanh trắ ng và 01 bộ bà i mà u đỏ trắ ng.

- Trả lại các bị cáo : 01 chiế c xe máy nhãn hiệu Honda WaveRS, màu đỏ - đen - bạc, BKS: 99Z2 – 1972, số khung: RLHJC4323AY241117, số má y: JC43E – 5717061, kèm theo chìa khóa xe đã qua sử dụ ng của bị cáo Kh ; 01 chiế c xe má y nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 12H1 - 142.24, số khung : 391476, số má y: 55P1-391485, kèm theo chìa khóa xe đã qua sử dụ ng của bị cáo Ng; 01 chiế c xe máy kiểu dáng xe Dream, màu nâu BKS: 20H3 – 4163, số khung: G0011A*003898, số má y” FMG 3*20006271, kèm theo chìa khóa xe đã qua sử dụng của bị cáo Q; 01 chiế c xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh - đen, BKS: 99Z1 - 9069, số khung bị mờ , số má y: JF18E-5301933, kèm theo chìa khóa xe đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6, màu vàng - trắng, số Imei : 358363061549622 đã qua sử dụ ng củ a bị cáo Tr ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, màu Đỏ - Đen, BKS: 99Z1 – 0832, số khung : RLHHC12248Y513036, số má y: HC12E - 0538991, kèm theo chìa khóa xe đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy V (SM-G313HZ), màu đen – bạc, số Imei: 354728065806638 đã qua sử dụ ng củ a bị cá o V; 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Iphone 6 plus, màu hồng, số Imei: 353331078377936, đã qua sử dụ ng của bị cáo T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T)

3. Án phí: Áp dụng Điề u 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đị nh về mứ c thu , miễ n, giảm, thu, nộ p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo H, B, V, Kh, Ng, Th, T, Q và Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồ ng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận;

- TAND tỉnh Bắc Ninh;

Cỡ chữ