- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận B, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 808 /2018/HS-PT Ngày 27-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Mai Văn Quang
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Phổ
Ông Ngô Tiến Phong
- Thư ký phiên toà:
Ông Nguyễn Công Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 768/2018/HSPT ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Minh H do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận B đối với bản án hình sự sơ thẩm số 685/2018/HSST ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân quận B, Hà Nội.
Bị cáo bị kháng nghị: Phạm Minh H, sinh năm 1983; giới tính nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Phòng 404, nhà H2A ngõ 469 Nguyễn Trãi, phường T, quận Th, thành phố Hà Nội; chỗ ở số nhà 3, H2, ngõ 469 Nguyễn Trãi, phường T, quận Th, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Phạm Gia L và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Nguyễn Thị D và 02 con (con lớn sinh năm 2011; con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự không; tạm giữ từ ngày 4/5/2017 đến ngày 13/5/2017 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú"; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận B thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2018, Phạm Minh H đặt mua 20.000.000 đồng tiền mua ma túy cần sa của một người không quen biết trên mạng xã hôi facebook. Sau đó khoảng 4 đến 5 ngày, có một người không rõ nhân thân, lai lịch gọi điện qua facebook hẹn H ra khu vực Ngã Tư Sở, Đống Đa, Hà Nội để lấy số cần sa trên. H đến điểm hẹn thì có một người đàn ông đưa cho H 01 hộp chứa ma túy cần sa, H đưa cho người đàn ông này 20.000.000 đồng. Khi mang về nhà, H mở các gói nilon màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô là cần sa chia vào 02 lọ thủy tinh và bảo quản trong chiếc tủ sắt nhôm trên phòng 404, nhà H2A, ngõ 469 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 3/5/2018, Phạm Minh H đang sử dụng tài khoản facebook có tên "Hight Trend" thì Lê Đức M sử dụng tài khoản facebook có tên "Hoàng L" hỏi mua của H 1.000.000 đồng ma túy cần sa. H đồng ý và hẹn M khoảng 21 giờ cùng ngày đến ngõ 234 Hoàng Quốc Việt để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô BKS 20AA
- 044.73 đến ngõ 234 Hoàng Quốc Việt, lấy gói nilon chứa ma túy cần sa cầm ở tay trái rồi đi sâu vào trong ngõ. H và M gặp nhau tại cổng bể bơi Học viện kỹ thuật quân sự, chưa kịp giao ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Cổ Nhuế 1
- Công an quận B bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.
Ngày 4/5/2018, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Minh H tại ngõ 469 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, qua khám xét thu giữ 02 lọ thủy tinh chứa thảo mộc khô.
Tại bản kết luận giám định số 3959/KLGĐ - PC 54 ngày 10/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilon là cần sa, khối lượng 2,911 gam; thảo mộc khô bên trong 06 gói nilon đều là cần sa, khối lượng 11,593 gam.
Tại bản kết luận giám định số 3968/KLGĐ - PC54 ngày 10/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định "Thảo mộc khô bên trong 02 lọ thủy tinh đều là cần sa, tổng khối lượng 191,158 gam".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2018/HSST ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân quận B, Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 4/5/2017 đến ngày 13/5/2017.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có kháng nghị số 07/QĐ-VKSBTL đối với bản án sơ thẩm số 141/2018/HSST ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân quận B, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét bị cáo mua bán trái phép 205,608 gam cần sa là số ma túy tương đối lớn; khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên đã xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là có phần nhẹ, chưa đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận B, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận B trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
.Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật; Kết luận giám định số 3959/KLGĐ - PC 54 và 3968/KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 3/5/2018, tại ngõ 234 đường Hoàng Quốc Việt, phường C, quận B, Hà Nội, Phạm Minh H có hành vi bán trái phép 2,911 gam ma túy cần sa cho Lê Minh Đ thì bị bắt quả tang cùng vật chứng, ngoài ra bị cáo còn tàng trữ trái phép 11,593 gam ma túy cần sa trong người; 191,158 gam ma túy cần sa ở phòng 404, nhà H2A, ngõ 469 phố N, quận Th, Hà Nội với mục đích vừa sử dụng, vừa bán kiếm lời. Tổng số ma túy cần sa thu giữ của Phạm Minh H là 205,608 gam. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quận B, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội, gây mất trật tự trị an và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc mua bán, tàng trữ, sản xuất, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lợi bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; số lượng ma túy bị cáo mua bán đã được thu hồi nên phần nào hạn chế hậu quả cho xã hội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là phù hợp, đủ tác dụng trừng phạt, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận B mà cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
.Về án phí: Theo qui định của pháp luật, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận B, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:
Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/5/2017 đến ngày 13/5/2017.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phạm Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 27/11/2018.
Các Thẩm phán
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |