- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 808/2018/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 7 năm 2018 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Võ Thị Hồng Vân- Hội phụ nữ phường Thới An
2/ Ông Võ Văn Tốt - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 416/2018/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2018 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 170/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2018/QĐHPT-ST ngày 20/5/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Hoài T , sinh năm: 1977.
Thường trú: Đ, Mỹ H, ấp Trung Ch, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: A, đường Song H, Quốc lộ 22, ấp Trung Ch, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Bùi Nhã T , sinh năm: 1987
Trú tại: A, khu phố 6, phường Tân Hưng Th, quận 12, Tp. HCM.
Tạm trú: phòng A- lô B, khu tập thể cán bộ Quân khu 7, khu phố 4, phường Trung Mỹ T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trịnh Hoài T trình bày:
Ông và bà Bùi Nhã T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2008, Giấy chứng nhận kết hôn số 92, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Th , Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2008. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn, tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa, chúng tôi đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay, tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với bà Bùi Nhã T .
Về con chung: Có 01 con chung, Trịnh Hoàng L , sinh ngày 05/01/2009, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà Trúc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Bùi Nhã T nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của ông T .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ kiện ly hôn, bà Bùi Nhã T là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Bùi Nhã T vắng mặt không lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trúc và ông T .
- Về yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào các lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Bà Bùi Nhã T và ông Trịnh Hoài T đăng ký kết hôn vào năm 2008, Giấy chứng nhận kết hôn số 92, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Th , Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2008, có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân bà Bùi Nhã T và ông Trịnh Hoài T là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Nhã T và ông Trịnh Hoài T tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng dẫn đến cãi và đánh nhau.
Ông Trịnh Hoài T yêu cầu ly hôn với bà Bùi Nhã T do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không phù hợp quan điểm sống. Tại biên bản xác minh của Công an phường Trung Mỹ T có ghi nhận “bà Bùi Nhã T , sinh năm: 1987 hiện đang cư ngụ tại phòng A, lô B, khu nhà ở Cán bộ Quân khu 7, khu phố 4, phường Trung Mỹ T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong suốt thời gian Tòa án giải quyết vụ án có triệu tập nhiều lần, bà Trúc đã nhận trực tiếp giấy triệu tập của Tòa án nhưng bà Trúc vẫn không lên Tòa để trình bày ý kiến, bà Trúc đã từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại Điều 91; Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những lời khai của ông T là chứng cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh. Tại kết quả xác minh của Hội phụ nữ phường Trung Mỹ T xác định mâu thuẫn giữa bà Trúc và ông T : “Ông T và bà Trúc mâu thuẫn nhiều năm nay, hai bên xô xát cãi nhau, gia đình không đồng thuận. Theo hội phụ nữ ông T và bà Trúc không còn khả năng đoàn tụ”
Từ những tài liệu, chứng cứ trên có cơ sở để khẳng định mẫu thuẫn vợ chồng giữa bà Trúc và ông T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó xét thấy yêu cầu của ông T là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung, Trịnh Hoàng L , sinh ngày 05/01/2009, hiện trẻ đang được ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc giáo dục người con chung không yêu cầu bà Trúc cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai, trẻ Hoàng Lan có trình bày “Nếu ba mẹ không ở được với nhau, con xin ở với ba”. Xét thấy, nhằm tạo điều kiện ổn định về tâm sinh lý và nguyện vọng của người con. Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Trịnh Hoàng L cho ông Trịnh Hoài T tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Trúc theo yêu cầu của ông T .
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Trịnh Hoài T phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Hoài T được ly hôn đối với bà Bùi Nhã T .
Giấy chứng kết hôn số 92, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Th , Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2008 cấp cho ông Trịnh Hoài T và bà Bùi Nhã T không còn giá trị.
2/ Về con chung: Có 01 con chung, Trịnh Hoàng L , sinh ngày 05/01/2009. Giao con chung Trịnh Hoàng L cho ông Trịnh Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng, Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Bùi Nhã T .
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Do các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4/ Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Trịnh Hoài T phải chịu. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2016/0036061 ngày 11/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5/ Ông Trịnh Hoài T và bà Bùi Nhã T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM -VKSND Quận 12; - UBND phường Tân Hưng Th ; - Chi cục THA Dân sự Quận 12; - Các đương sự; - Lưu VP, HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |