- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn S - Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Cao hị Q2.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật ố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 806/2025/DS-PT Ngày: 25-7-2025 Về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
h m phán - Chủ t a phiên a: ng V Bảo Nguyên
Các h m phán :
ng Đào Hồng Cảnh
ng rần Đức Nam
hư ký a án ghi biên bản phiên t a: Bà B i hái Ng c Huyền – hư ký
a án nhân dân hành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên t a: Bà Nguyễn hị Mộng Linh - Kiểm sát viên.
rong các ngày 03 và 25 tháng 7 năm 2025 tại Ph ng xử án của a án nhân dân hành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc th m công khai vụ án dân sự thụ lý số: 395/2025/ LP -DS ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “ ranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ th m số 4068/2024/DS-S ngày 29 tháng 8 năm 2024 của a án nhân dân thành phố hủ Đức, hành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc th m số 2486/2025/QĐ-P ngày 12 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên t a phúc th m số 7874/2025/QĐ-P ngày 10 tháng 6 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên t a số 9226/2025/QĐ-P ngày 03 tháng 7 năm 2025, giữa:
1.Nguyên đơn: ng Nguyễn Văn S, sinh năm 1931 (chết)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S:
- Bà Lê hị Q
- Bà Nguyễn hị Q1
- Bà Nguyễn hị C
- Bà Nguyễn hị
- Bà Nguyễn hị C m H
- ng Nguyễn Văn M (chết)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn M:
- Bà Phan hị K 1
- Bà Nguyễn hị râm A
- Bà Nguyễn hị Quỳnh A1
Đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Q, bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Phan Thị K, bà Nguyễn Thị Trâm A, bà Nguyễn Thị Quỳnh A1:
ng Nguyễn Hữu K1 (có mặt).
Địa chỉ: B Đường A, tổ C, khu phố G, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S:
Bà Nguyễn hị Hồng Y – Luật sư của Công ty L – Đoàn luật sư hành phố H (có mặt).
2.Bị đơn:
- ng Nguyễn Văn N, sinh năm 1956.
- Bà Cao hị Q2, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố L, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Cao hị Phương 1 (có mặt).
Địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố L, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
- ng rần Hoàng N1 (có mặt).
Địa chỉ: B P, phường B, hành phố Hồ Chí Minh.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê hị Q.
3.2. Bà Nguyễn hị Q1.
3.3. Bà Nguyễn hị C.
3.4. Bà Nguyễn hị .
3.5. Bà Nguyễn hị C m H.
Đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Q, bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Cẩm H:
ng Nguyễn Hữu K1 (có mặt).
Địa chỉ: B Đường A, tổ C, khu phố G, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
3.6. ng Nguyễn Nhật H1 (vắng mặt).
3.7. ng Nguyễn Cao Hoàng P (vắng mặt).
3.8. Bà Cao hị Phương 1 (có mặt).
C ng địa chỉ: Nhà không số, tổ A, khu phố L, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
3.9. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L (Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố , hành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt) 2
Địa chỉ: C N, phường L, hành phố Hồ Chí Minh.
4. Do có kháng cáo của bị đơn Cao hị Q2.
NHẬN THẤY:
*Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S là ông Nguyễn Hữu K1 trình bày:
Ngày 23/12/2008, hộ ông Nguyễn Văn S được Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) Quận I, hành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01375/26833. Sau đó, hộ ông S có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N và bà Cao hị Q2 phần đất có diện tích 236m2 thuộc một phần thửa 55, tờ bản đồ số 23 ( L: BĐĐC – 2003) t a lạc tại khu phố L, phường L, Quận I (nay là thành phố ). ng N và bà Q2 đã được UBND Quận I cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009. Sau đó, ông S phát hiện ông N, bà Q2 sử dụng lấn sang phần đất của ông S có diện tích 68m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 ( L: BĐĐC – 2003). Phía ông S đã liên hệ với ông N, bà Q2 trả lại phần đất lấn chiếm nêu trên nhưng phía ông N, bà Q2 không trả lại.
Nay, ông Nguyễn Hữu K1 yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 trả lại phần đất có diện tích 60,3m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 ( L: BĐĐC – 2003) t a lạc tại khu phố L, phường L, thành phố cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S. Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21; đồng thời yêu cầu ông N, bà Q2 tháo dỡ công trình xây dựng trên đất tranh chấp. ng S tự nguyện để lại phần đất có diện tích 7,7m2 theo số thứ tự 24 làm lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H. ng K1 vẫn giữ nguyên kết quả th m định giá theo Chứng thư th m định giá số 2139/2022/C ngày 28/02/2022 của Công ty NHH 3.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện bị đơn là bà Cao Thị Phương T1 trình bày:
ng Nguyễn Văn N và bà Cao hị Q2 không chấp nhận yêu cầu của phía ông Nguyễn Văn S. Khi ông N, bà Q2 nhận chuyển nhượng của ông S thì thỏa thuận vị trí như hiện tại ông N, bà Q2 đang sử dụng. Sau đó, ông S làm thủ tục tách sổ cho ông N, bà Q2. Khi giao sổ, ông N, bà Q2 do không hiểu biết nên thấy đủ diện tích thì không có ý kiến. uy nhiên sau này mới phát hiện ra vị trí cấp sổ khác so với vị trí thỏa thuận chuyển nhượng ban đầu nên đề nghị phía ông S làm thủ tục cấp giấy lại như thỏa thuận ban đầu nhưng không thỏa thuận được. ng N, bà Q2 đồng ý trả lại phần đất lấn chiếm nhưng không đồng ý tháo dỡ phần nhà lấn chiếm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại vì ông N, bà Q2 3 đã xây dựng và cư ngụ trên đất đã lâu. ng N, bà Q2 không có ý kiến gì về việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 của U. Bà T1 vẫn giữ nguyên kết quả th m định giá theo Chứng thư th m định giá số 2139/2022/C ngày 28/02/2022 của Công ty NHH 3.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a đại diện bị đơn là ông rần Hoàng N1 trình bày:
ng rần Hoàng N1 thống nhất với phần trình bày của bà Cao hị Phương 1
Luật sư Nguyễn hị Hồng Y trình bày:
Luật sư Y thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Hữu K1. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 60,3m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 ( L: BĐĐC – 2003) t a lạc tại khu phố L, phường L, thành phố cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S. Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21; đồng thời yêu cầu ông N, bà Q2 tháo đỡ công trình xây dựng trên đất tranh chấp. ng S tự nguyện để lại phần đất có diện tích 7,7m2 theo số thứ tự 24 làm lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H vì ph hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, a án tiến hành triệu tập đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T là Phạm Mai C1 hợp lệ nhưng bà C1 vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành h a giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
ại Bản án dân sự sơ th m số 4068/2024/DS-S ngày 29 tháng 8 năm 2024 của a án nhân dân thành phố hủ Đức, hành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Cao Thị Q2 trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S (Bà Lê Thị Q, bà Nguyễn Thị Q1, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Cẩm H, bà Phan Thị K, bà Nguyễn Thị Trâm A, bà Nguyễn Thị Quỳnh A1) phần đất có diện tích 60,3m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại phường L, thành phố T. Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21 theo Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
- Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Cao Thị Q2 tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất có diện tích 60,3m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 4 tọa lạc tại phường L, thành phố T. Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21 theo Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.”
Ngoài ra, Bản án sơ th m c n quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo luật định.
-Ngày 11 tháng 9 năm 2024 bà Cao hị Q2 nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ th m số 4068/2024/DS-S ngày 29 tháng 8 năm 2024 của a án nhân dân thành phố hủ Đức, hành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu a án cấp phúc th m xử hủy án sơ th m.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã trình bày tại phiên t a sơ th m, đề nghị a án cấp phúc th m xử y án sơ th m.
Bị đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
rường hợp không hủy án, bị đơn đồng ý trả đất cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn phải giao thêm cho bị đơn phần đất phía nguyên đơn đã giao thiếu tại vị trí 21 và 22 (sử dụng làm lối đi chung) trên Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của rung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H để bị đơn xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Không bên đương sự nào cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, a án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc th m huỷ bản án sơ th m do vi phạm nghiêm tr ng thủ tục tố tụng, xâm phạm nghiêm tr ng quyền lợi hợp pháp của người khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về thủ tục tố tụng:
.Đơn kháng cáo của bà Cao hị Q2 nộp trong hạn luật định, Người kháng cáo thuộc trường hợp miễn tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật ố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc th m.
.Về quan hệ pháp luật tranh chấp, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện: a án cấp sơ th m đã xác định đúng. 5
.Căn cứ Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, ngày 08/5/2020, a án nhân dân thành phố hủ Đức thụ lý vụ án số 287/2020/ LS -DS về việc “ ranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa: Nguyên đơn: Nguyễn Văn S với Bị đơn: Nguyễn Văn N, Cao hị Q2.
Ngày 16/11/2020, bị đơn Nguyễn Văn N và Cao hị Q2 nộp đơn phản tố với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 do cấp sai vị trí (bút lục số 62). a án cấp sơ th m nhận đơn nhưng không thụ lý giải quyết (hồ sơ không có hông báo thụ lý, không có văn bản rút đơn phản tố của đương sự).
. ại Quyết định hoãn phiên t a số 6130/2024/QĐS -DS ngày 31/7/2024, Biên bản phiên t a sơ th m ngày 31/7/2024 và tại trang 1 của Biên bản hội ý ngày 31/7/2024 đều ghi thành phần Hội đồng xét xử có Hội th m nhân dân là: ng Phạm Văn âm và bà Đặng hị hu Oanh nhưng Hội th m nhân dân ký Biên bản hội ý trên là ông Phạm Văn 2 và bà Phan hị B.
.Xét kháng cáo của bà Cao hị Q2.
.Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 trả lại phần đất có diện tích 60,3m2 thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 ( L: BĐĐC – 2003) t a lạc tại khu phố L, phường L, thành phố cho ông S (có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S). Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21 tại Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của rung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H.
. a án cấp sơ th m đã căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của rung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H c ng các tài liệu chứng cứ khác để giải quyết vụ án. ừ đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
. Xét kháng cáo của đương sự.
. Đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất nên phải lập Bản đồ hiện trạng vị trí-áp ranh giữa các thửa đất tranh chấp mới có cơ sở xác định đúng vị trí, diện tích đất tranh chấp, cụ thể cần xác định diện tích, vị trí và áp ranh: thửa số 55, tờ bản đồ số 23 ( L:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01375/26833 ngày 23/12/2008 do UBND Quận I cấp cho hộ ông Nguyễn Văn S, thửa 543, tờ bản đồ số 23 ( L:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H 01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 (thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất số 767/VPĐK QSDĐ được Văn ph ng Đăng ký QSDĐ Quận 9 kiểm tra ngày 03/02/2009), ranh đất thực tế ông N, bà 6 Q2 sử dụng, ranh đất giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 giao nhận khi chuyển nhượng (nếu có thể xác định).
. ại Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 28/9/2020 của rung tâm đo đạc bản đồ - Sở ài nguyên và Môi trường hành phố H thể hiện:
-Áp ranh thửa 543, tờ bản đồ số 23 ( L:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 với 02 ranh đất được cho là ông N, bà Q2 sử dụng do đại diện Nguyên đơn hướng dẫn. uy nhiên, tại phiên t a phúc th m đại diện Nguyên đơn c ng không giải thích vì sao lại có 02 ranh hướng dẫn trên Bản đồ.
-Không áp ranh và không ghi chú áp ranh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01375/26833 do UBND Quận I cấp cho hộ ông Nguyễn Văn S vào ngày 23/12/2008 (cập nhật giảm 236m2 ngày 13/7/2009) trên Bản đồ;
-Diện tích, vị trí đất tranh chấp chỉ được xác định trên cơ sở áp ranh giữa Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 với ranh đất được đại diện Nguyên đơn cho là ông N, bà Q2 sử dụng.
Do vậy, a án cấp sơ th m đã buộc: ng N, bà Q2 tháo dỡ tài sản trên đất, trả lại gia đình ông S diện tích đất tại Khu A, gồm các vị trí: số 3 (1,4m2, thửa 40), thửa 55: số 9 (11,2m2), số 10 (6,4m2), số 11 (24,6m2), số 12 (9,3m2), số 13 (1,1m2) và số 14 (1,3m2) là không thuyết phục.
. a án cấp sơ th m c ng căn cứ vào Bản đồ trên buộc phía ông N, bà Q2 trả cho hộ ông S diện tích đất tại Khu B, gồm các vị trí: số 16 (0,4m2, thuộc thửa 41), số 18 (0,3m2 thuộc thửa 41), số 20 (2,7m2, thuộc thửa 53) và số 21 (1,8m2, thuộc thửa 53) nhưng hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các vị trí đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông S.
. Bên cạnh đó, tại vị trí số 22 (diện tích 17,5m2) được thể hiện trên Bản đồ nằm hoàn toàn trong ranh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao hị Q2 nhưng a án cấp sơ th m chỉ căn cứ vào lời khai của phía Nguyên đơn nhận định gia đình ông S tự nguyện để lại làm “Lối đi chung” để không buộc bị đơn trả đất.
Mặt khác, xem xét Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất số 767/VPĐK QSDĐ được Văn ph ng Đăng ký QSDĐ Quận 9 kiểm tra ngày 03/02/2009 có thể hiện giáp với thửa đất của ông N, bà Q2 nhận chuyển nhượng từ hộ ông S có “Lối đi nội bộ”, vậy giữa lối “Lối đi chung” tại vị trí số 22, 24 Bản đồ hiện trạng vị trí-áp ranh số 23287/ ĐĐBĐ-CN Đ ngày 7 28/9/2020 và “Lối đi nội bộ” tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 30/12/2008 có mối liên hệ như thế nào, việc này chưa được cấp sơ th m làm rõ.
. ừ những phân tích tại Mục [1.3] và M1 [3], có cơ sở xác định a án cấp sơ th m đã vi phạm nghiêm tr ng thủ tục tố tụng, những vi phạm này xâm phạm nghiêm tr ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N, bà Q2 và những người khác có liên quan.
.Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy Bản án dân sự sơ th m số 4068/2024/DS-S ngày 29 tháng 8 năm 2024 của a án nhân dân thành phố hủ Đức để giao về a án nhân dân Khu vực 2, hành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ th m.
.Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân hành phố Hồ Chí Minh thống nhất với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. [7].Về án phí dân sự. Án phí dân sự phúc th m: Do hủy án sơ th m nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc th m. Án phí dân sự sơ th m sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ th m.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ Điều 308 Bộ luật ố tụng dân sự năm 2015;
-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UB VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí a án;
Chấp nhận kháng cáo của bà Cao hị Q2.
Tuyên xử:
1.Hủy Bản án dân sự sơ th m số 4068/2024/DS-S ngày 29 tháng 8 năm 2024 của a án nhân dân thành phố hủ Đức, hành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ về a án nhân dân Khu vực 2, hành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ th m.
2.Về án phí dân sự sơ th m: Án phí dân sự sơ th m sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ th m.
3.Về án phí dân sự phúc th m: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc th m.
4.Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND TP.HCM; - TAND Khu vực 2, hành phố Hồ Chí Minh; - hi hành án dân sự P.HCM; - Ph ng hi hành án dân sự Khu vực 2; 8 - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. 9 | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Bảo Nguyên |