vanban.org

Bản án 806/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Hồng Xuyên - Phạm Tùng Dương"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 806/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16/11/2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thảo

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng

Bà Nguyễn Thị Cờ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội: Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 234/2021/TLST- HNGĐ ngày 26/03/2021. Về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng X; Sinh năm 1982; Chỗ ở: Phòng 208, Chung cư Phennikaa, Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Xuyên: ông Lê Anh Đức – Luật sư thuộc công ty luật TNHH FCL – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Tùng D, sinh năm 1975; ĐKHKTT và chỗ ở: 167 phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2021 vµ các văn bản khai t¹i tßa nguyªn ®¬n lµ bà Vũ Thị Hồng X trình bày: Tôi và ông Phạm Tùng D tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 12/03/2004 tại UBND phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, không chia sẻ với nhau về kinh tế cũng như về việc nuôi dạy con cái. Mâu thuẫn đã kéo dài từ lâu, đỉnh điểm từ khoảng năm 2005, tôi đã bỏ nhà về ở với bố mẹ đẻ. Sau đó, năm 2007 được hai bên gia đình khuyên giải thuyết phục tôi quay về chung sống với anh Tùng Dương. Đến năm 2008 tôi sinh cháu thứ 2. Sau khi sinh cháu thứ 2 tôi rơi vào trầm cảm nặng nề…cuộc sống gia đình quay lại những tháng này như trước đây. Hai vợ chồng tôi không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống thường ngày. Anh Tùng Dương đi làm và độc lập về kinh tế, hai vợ chồng chưa bao giờ chia sẻ với nhau. Vợ chồng không có sự chia sẻ yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau. Cuộc sống kéo dài như vậy, tôi gần như suy sụp hoàn toàn. Đến khoảng năm 2017 tôi không chịu đựng được không khí ngột ngạt của gia đình, tôi chuyển ra ngoài sinh sống. Chúng tôi đã sống ly thân bảy, tám năm nay. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nguyện vọng của tôi xin được ly hôn.

Về con chung: chúng tôi có có 02 con chung là Phạm Mạnh Duy sinh ngày 08/01/2005 và Phạm Quang Minh sinh ngày 20/01/2008. Hiện nay hai cháu đang ở cùng bố tại 167 phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Nguyện vọng của tôi khi ly hôn mỗi người nuôi một con chung, không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau. Trường hợp con có nguyện vọng được ở cùng bố cho tiện việc học hành tôi sẽ cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng/2con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Ý kiến của bị đơn: Tại bản tự khai và các văn bản tại Tòa ông Phạm Tùng D cho biết: Về quan hệ hôn nhân: Tôi xác nhận thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn đúng như bà Xuyên trình bày. Tôi xác nhận vợ chồng đã ly thân như bà Xuyên nêu. Theo tôi bà Xuyên xin ly hôn lý do chính là để kinh doanh mua bán nhà đất, không vướng bận cả hai vợ chồng, kinh tế hiện nay của cả hai vợ chồng đã khá giả hơn, có nhà riêng, đất riêng nên tôi thấy không nhất thiết cần ly hôn, cũng vì việc ly hôn còn ảnh hưởng đến các con. Tôi không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Tôi xác nhận có hai con chung như bà Xuyên đã trình bày. Trường hợp phải ly hôn, nguyện vọng các con muốn ở với ai thì tôi cũng nhất trí.

Về tài sản chung và nhà ở: Không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Tôi có cho bà Xuyên vay nợ với số tiền là 550.000.000 đồng. Trường hợp phải ly hôn thì tôi yêu cầu bà Xuyên phải thanh toán trả số tiền trên cho tôi.

*Tòa án đã thông báo cho bà Vũ Thị Hồng X và ông Phạm Tùng D về việc lấy ý kiến của các con khi giải quyết ly hôn. Bà Xuyên đã nộp cho Tòa án Bản ghi nhận ý kiến của các con có xác nhận người làm chứng là bà Nghiêm Thị Thuận là bà nội các cháu. Ông Phạm Tùng D sau khi xem bản ghi ý kiến này đã cho rằng đây không phải là chữ ký, chữ viết của các con chung cũng như chữ ký của người làm chứng là giả. Tòa án đã thông báo đối với các con chung của ông bà có ý kiến trong trường hợp bà Xuyên, ông Dương ly hôn ; Tòa án đã thông báo về nghĩa vụ nộp dự phí án phí cho ông Phạm Tùng D đối với yêu cầu đòi nợ đối với bà Xuyên ;

Tòa án đã tiến hành trao đổi với tổ dân phố được biết hai con chung của ông bà hiện đang ở cùng ông Dương tại 167 phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên Tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Vũ Thị Hồng X vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông Phạm Tùng D; Hiện hai con đang ở cùng ông Dương nên khi ly hôn bà có nguyện vọng để ông Dương trực tiếp nuôi hai con chung, bà cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đồng/tháng/2con. Về tài sản chung, nhà ở và những vấn đề khác: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Phạm Tùng D vẫn không có mặt.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Xuyên có ý kiến: Mâu thuẫn vợ chồng của bà Xuyên và ông Dương xảy ra đã lâu, hai bên sống ly thân và không quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Xuyên. Về con chung của bà Xuyên và ông Dương, hiện các cháu đang ở cùng với ông Dương, ông Dương là giáo viên nên đề nghị Tòa án giao hai con cho ông Dương nuôi dưỡng và bà Xuyên có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con để tránh xáo trộn ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của các cháu. Về tài sản, nhà ở chung bà Xuyên không yêu cầu. Về số tiền ông Dương nêu bà Xuyên nợ ông Dương nhưng không có tài liệu chứng cứ, cũng không nộp dự phí án phí cho yêu cầu này, bà Xuyên không thừa nhận khoản nợ ông Dương nên đề nghị Tòa án không giải quyết.

Ý kiÕn cña ViÖn kiÓm s¸t tham gia phiªn Tßa vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, ® ¬ng sù thùc hiÖn ®óng theo quy ®Þnh Bé luËt tè tông d©n sù. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Hồng X. Về con chung: Giao ông Phạm Tùng D trực tiếp nuôi con chung; Ghi nhận bà Xuyên tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản và nợ chung: Bà Vũ Thị Hồng X không yêu cầu; ông Phạm Tùng D có yêu cầu nhưng không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh việc vay nợ của bà Xuyên nên không có cơ sở xem xét. Bà Vũ Thị Hồng X phải chịu án phí LHST và án phí cấp dưỡng nuôi con; Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án Hôn nhân gia đình này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Tùng D vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Hồng X và ông Phạm Tùng D kết hôn ngày 12/03/2004 tại UBND phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. §©y lµ h«n nh©n hîp ph¸p. Sau khi kÕt h«n, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân. Xét thấy: Nay hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Dương cho rằng không nhất thiết cần ly hôn và ảnh hưởng đến các con nhưng ông không cải thiện được tình cảm vợ chồng, mỗi người vẫn sống mỗi nơi, không quan tâm đến nhau. Ông cũng xác nhận vợ chồng sống ly thân đã lâu. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Hồng X.

2. Về con chung: Ông bà có có 02 con chung là Phạm Mạnh Duy sinh ngày 08/01/2005 và Phạm Quang Minh sinh ngày 20/01/2008. Trường hợp ly hôn ông bà có quan điểm con ở với ai cũng được, theo nguyện vọng của các con. Tại phiên tòa, bà Xuyên có nguyện vọng để hai con tiếp tục ở cùng ông Dương và bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng/2con.

Xét: Qua xác minh cho biết hai cháu đều đang ở cùng bố tại 167 phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Ông Dương cũng không muốn trường hợp ly hôn ảnh hưởng đến các con. Vì vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình nên Giao ông Phạm Tùng D trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Phạm Mạnh Duy sinh ngày 08/01/2005 và Phạm Quang Minh sinh ngày 20/01/2008. Về cấp dưỡng nuôi con bà Xuyên tự nguyện cấp dưỡng 5.000.000đồng/tháng/2con là phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận.

3. Về tài sản, nhà ở chung: Ông bà không yêu cầu nên không xét.

Về yêu cầu của ông Phạm Tùng D: Yêu cầu bà Vũ Thị Hồng X trả nợ ông số tiền 550.000.000 đồng. Bà Xuyên không thừa nhận số tiền vay trên. Ông Dương không nộp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ về việc vay mượn trên; Tòa án đã thông báo cho ông Phạm Tùng D về nghĩa vụ nộp dự phí án phí đối với yêu cầu này nhưng Ông Dương không nộp. Vì vậy không xét.

Đối với các vấn đề khác sẽ được giải quyết khi các bên có căn cứ có yêu cầu.

Về những vấn đề khác: Héi ®ång xÐt xö c¨n cø: ®iÒu 147; điều 228; ®iÒu 271, ®iÒu 273, ®iÒu 278, ®iÒu 280 - Bé luËt tè tông d©n sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Bà Vũ Thị Hồng X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.

C¸c ® ¬ng sự ® îc quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Tõ c¸c lÏ trªn,

quyÕt ®Þnh:

C¨n cø: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 - LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh; Kho¶n 1 Điều 28; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 - Bé luËt tè tông d©n sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ ChÊp nhËn yªu cÇu xin ly h«n cña bà Vũ Thị Hồng X.

Bà Vũ Thị Hồng X được ly hôn ông Phạm Tùng D.

2/ Về con chung:

Giao ông Phạm Tùng D trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Phạm Mạnh Duy sinh ngày 08/01/2005 và Phạm Quang Minh sinh ngày 20/01/2008.

Ghi nhận bà Vũ Thị Hồng X đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/02con/tháng (Năm triệu đồng/02con/tháng) tức 2.500.000 đồng/con/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng/con/tháng) kể từ tháng 11/2021 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/ Về tài sản, nhà ở chung:

Ông bà không yêu cầu nên không xét.

Đối với các vấn đề khác sẽ được giải quyết khi các bên có căn cứ có yêu cầu.

4/ Về án phí: Bà Vũ Thị Hồng X chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Bà đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015697 ngày 26/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nay bà Vũ Thị Hồng X còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ