- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Trương Văn A tranh chấp ly hôn với bị đơn Bà Đặng Thị Minh T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 800/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Huy Hoàng.
2. Bà Nguyễn Ngọc Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa:
Nguyên đơn: Ông Trương Văn A, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: B6/204K ấp 2, xã P, huyện BC, Thành phố H( Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Bà Đặng Thị Minh T, sinh năm; 1983;
Địa chỉ: 125 đường số 18, KDC Phong Phú 4, ấp 3, xã P, huyện BC, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ông Trương Văn A trình bày:
Ông và Bà Đặng Thị Minh T tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có tìm hiểu, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2010, Giấy chứng nhận kết hôn số 106/2010, quyển số 01 do UBND xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Long An cấp ngày 26/4/2010, thời gian đầu sống chung hạnh phúc sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, do tính tình quan điểm sống không còn hòa hợp, vợ chồng không có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Ông A yêu cầu ly hôn với Bà T.
Về con chung: Có 02 (hai) người con chung là trẻ Trương Hoàng Y, giới tính nữ, sinh ngày 27/01/2011 và trẻ Trương Hoàng M, giới tính nam, sinh ngày 28/07/2015. Ông A yêu cầu giao 02 (hai) con chung là trẻ Yến và trẻ Minh cho Bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông A không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt tại Tòa án, không thể hiện ý kiến gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1]. Ông Trương Văn A yêu cầu được ly hôn với bị đơn Bà Đặng Thị Minh T. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Phong Phú, huyện Bình Chánh thì “Đương sự Đặng Thị Minh Thư, sinh năm 1983 có đăng ký thường trú tại 125 đường số 18, KDC Phong Phú 4, ấp 3, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh”. Như vậy, bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 106/2010, quyển số 01 do UBND xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Long An cấp ngày 26/4/2010 thì quan hệ hôn nhân giữa Ông Trương Văn A và Bà Đặng Thị Minh T là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định đời sống chung vợ chồng giữa Ông A và Bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống với nhau, hai người không còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng Bà T vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy Bà T đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo Công văn số 281/UBND ngày 04/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã Phong Phú trả lời xác minh quan hệ hôn nhân đã xác nhận “Trong quá trình chung sống giữa Ông Trương Văn A và Bà Đặng Thị Minh T, không rõ còn chung sống, có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu”. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa Ông A và Bà T là có thật. Hơn nữa, Ông A và Bà T cũng đã sống ly thân với nhau trong một thời gian dài. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa Ông A và Bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của Ông Trương Văn A là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Ông A và Bà T Có 02 (hai) người con chung là trẻ Trương Hoàng Yến, giới tính nữ, sinh ngày 27/01/2011 và trẻ Trương Hoàng Minh, giới tính nam, sinh ngày 28/07/2015. Khi ly hôn, Ông A giao 02 con chung cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Trương Hoàng Y và trẻ Trương Hoàng M. Ông A không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, trẻ Y và trẻ M đang sống chung với Bà T. Bà T đã chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho trẻ Yến và trẻ Hoàng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ Yến và trẻ Minh cho Bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với Ông A.
Ông A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
. Về tài sản chung: Ông A xác định không có, còn Bà T vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về tài sản chung giữa Ông A và Bà T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về tài sản chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
. Về nợ chung: Ông A xác định không có, còn Bà T vắng mặt, không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về nợ chung giữa bà và Ông A. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về nợ chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận;
. Về án phí: Ông Trương Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Trương Văn A.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Văn A được ly hôn với Bà Đặng Thị Minh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 106/2010, Quyển số 01 do UBND xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Long An cấp ngày 26/4/2010 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: Ông Trương Văn A và Bà Đặng Thị Minh T có 02 (hai) người con chung là trẻ Trương Hoàng Yến, giới tính nữ, sinh ngày 27/01/2011 và trẻ Trương Hoàng Minh, giới tính nam, sinh ngày 28/07/2015.
Giao trẻ Trương Hoàng Y, giới tính nữ, sinh ngày 27/01/2011 và trẻ Trương Hoàng M, giới tính nam, sinh ngày 28/07/2015 cho Bà Đặng Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với Ông A.
Ông A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3. Về tài sản chung: Ông A xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Ông A xác định không có nên Tòa không đặt ra để giải quyết.
2. Về án phí: Ông Trương Văn A phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0040641 ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân H.BC; - Chi cục THADS H.BC; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Văn Dựa |