- Tranh chấp gì? "Thạch Ngọc Qúi - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thanh Phương
2. Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Thạch Ngọc Q, sinh ngày 15/12/1992, tại tỉnh Đồng NaiHoồ Chí NMinhHo62 C; Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Ngọc S, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thúy M, sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt giữ ngày 18/11/2024, sau đó chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Dương Nguyên B, sinh năm 2000, địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thạch Ngọc Q là người sử dụng trái phép ma tuý. Vào lúc 10 giờ 00 ngày 18/11/2024, Q sử dụng điện thoại liên lạc với người tên V (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua ma tuý. V hẹn Q đến Bệnh viện L giao ma tuý và nhận tiền, sau đó Q điều khiển xe mô tô biển số 60B7 – 429.08 đi từ ấp A, xã L, huyện L đến Bệnh viện L mua của V 02 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Qúi mang về phòng trọ cất giấu.
Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Q tiếp tục mang ma tuý đi đến phòng trọ số 8, phòng trọ Hồ Đình Đ, thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện N do Hồ Mỹ T thuê để chơi, thì bị Công an thị trấn H phát hiện bắt quả tang.
Tang vật thu giữ: 02 túi Nylon hàn kín, trong đó (01 túi kích thước 03cm x 03cm; 01 túi kích thước 03cm x 4,5cm) trong túi áo ngực bên trái Qúi đang mặc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu vàng của Q; 01 xe mô tô biển số 60B7 – 429.08 do Q mượn của người tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch). Qua xác minh xác định chủ xe là anh Dương Nguyên B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành tra cứu và xác định xe mô tô trên có biển kiểm soát 83C1 – 791.21 của Dương Nguyên B. Anh B cho B1 mượn xe, sau đó, Bé cho Q1 mượn xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị chuyển trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản kết luận giám định số 2390/KL-KTHS ngày 25/11/2024 mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,7572gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 71/CT.VKSNT ngày 18/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Thạch Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Ngọc Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Toà án tuyên: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma tuý còn lại sau giám định (Được niêm phong sau khi giám định số 2390/KL-KTHS ngày 25/11/2024) và tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu vàng của Q sử dụng vào việc phạm tội; Trả lại 01 xe mô tô Hon Da Winner số máy KC26E1217603 số khung RLHKC260XGY372086 có biển số 83C1 – 791.21 cho Dương Nguyên B là chủ sở hữu hợp pháp.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Thạch Ngọc Q không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Thạch Ngọc Q (sinh ngày 15/12/1992) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào lúc 10 giờ 00 ngày 18/11/2024, Q đã có hành vi mua của một người tên V 02 gói ma tuý với giá 500.000 đồng, sau đó mang về phòng trọ của mình cất giấu. Đến 13 giờ 30 cùng ngày, Q tiếp tục mang ma tuý đi đến phòng trọ do Hồ Mỹ T thuê tại địa chỉ: số H, phòng trọ Hồ Đ, thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện N để chơi, thì bị Công an thị trấn H phát hiện bắt quả tang.
Lời thừa nhận của bị cáo Thạch Ngọc Q phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Thạch Ngọc Q tàng trữ theo Kết luận giám định số 2390/KL-KTHS ngày 25/11/2024, có khối lượng: 0,7572gam, loại: Methamphetamine và hành vi phạm tội của bị cáo Thạch Ngọc Q đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Thạch Ngọc Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Thạch Ngọc Q là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền án, tiền sự: Không
Tội phạm do bị cáo Thạch Ngọc Q thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Do đó cần xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thạch Ngọc Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
- Khối lượng còn lại sau giám định là 0,7303gam ma túy loại Methamphetamine (được niêm phong số 2390/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ) bị cáo tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu vàng của Q sử dụng vào việc phạm tội có giá trị sử dụng, cần tịch thu sung quỹ nhà nước là có căn cứ.
- Trả lại 01 xe mô tô hiệu Hon Da Winner số máy KC26E1217603 số khung RLHKC260XGY372086 có biển số 83C1 – 791.21 của anh Dương Nguyên B, anh B không biết bị cáo sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội, cần trả lại cho chủ sở hữu là thỏa đáng.
- 01 biển kiểm soát số 60B7-429.08 đã qua sử dụng, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, cần giao lại cho Cơ quan công an có thẩm quyền tiếp tục xử lý theo quy định là phù hợp
Đối với người tên V bán ma túy cho Q, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Thạch Ngọc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 0,7303gam ma túy loại Methamphetamine (được niêm phong số 2390/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ) tiêu hủy.
- Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu vàng của bị cáo Thạch Ngọc Q sung quỹ nhà nước.
- Trả lại 01 xe mô tô hiệu Hon Da Winner số máy KC26E1217603 số khung RLHKC260XGY372086 có biển số 83C1 – 791.21 cho anh Dương Nguyên B.
- Giao 01 biển kiểm soát số 60B7-429.08 đã qua sử dụng cho Cơ quan công an có thẩm quyền tiếp tục xử lý theo quy định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Thạch Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS, VP | (Đã ký) Trần Nguyên Vũ |