- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lò Thị S 04 (bốn) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày: 17- 8 - 2022 ơ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lò Văn Hiến và bà Thào Thị Chứ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/TLST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị S (tên gọi khác: không); sinh năm: 1977 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: bản N, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ học vấn: không học; con ông: Lò Văn Đ (đã chết) và bà Lò Thị H, sinh năm: 1954; chồng: Lò Văn T, sinh năm: 1977 và có 02 người con, con lớn năm 1995, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: theo bản án số 33/2006/HSST ngày 24/10/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 02 năm tù về tội mua bán trái phép đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 30/4/2022 đến 03/5/2022 tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Lò Thị N, sinh năm 1984, trú tại tổ 4, thị trấn Điện Biên Đông, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 45 phút ngày 30/4/2022, tại nhà Lò Thị S ở bản N, xã L, huyện Đ tổ công tác công an huyện Đ bắt quả tang Lò Thị S đang cầm trên tay 02 gói chất bột trắng nghi là Heroine. Số chất bột này Sin khai nhận là Heroine mua vào sáng ngày 28/4/2022 của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, địa chỉ giá 500.000đ ở ngoài đường thuộc bản N, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Mục đích mua Heroine để thuê người nghiện làm ruộng, nương và ai hỏi mua sẽ bán kiêm lời.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Lò Thị S xác định toàn bộ số chất bột trắng thu giữ của Lò Thị S có khối lượng 2,59 gam, trích 0,22 gửi giám định. Tại bản kết luận định số 631/KL-KTHS ngày 07/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận mẫu gửi giám định là chất ma túy loại Herroine.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo Lò Thị S.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSĐBĐ ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lò Thị S về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy " theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Thị S về tội mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Thị S từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy 2,37 gam Heronie còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có lập luận bào chữa như sau: Người bào chữa nhất trí với phân tích và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng hình phạt đối với các bị cáo. Người bào chữa lập luận thêm về nhân thân bị cáo là phụ nữ dân tộc không được đi học nên nhận thức pháp luật có hạn chế, cuộc sống khó khăn nên bị cáo mới phạm tội như ngày hôm nay và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Lò Thị S thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận vào ngày 30/4/2022 bị cáo có hành vi cất giấu 2,59 gam Heronie trong người nhằm mục đích thuê người nghiện làm nương và ai hỏi mua sẽ bán thì bị bắt quả tang tại nhà bị cáo. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/4/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định; kết luận giám định, các bản cung, bản kết luận điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ nhận định, bị cáo Lò Thị S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sự nghiêm cấm của pháp luật về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tuy nhiên vẫn cố ý mua ma túy nhằm trả công thuê người làm nương va bán lẻ với khối lượng Heroine là 2,59 gam thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố. Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo là phụ nữ dân tộc thiểu số, không được đi học, vào năm 2006 từng bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, đều đó chứng tỏ bị cáo nhận thức rất rõ về hành vi phạm tội của bị cáo hiện tại. Tuy nhiên bị cáo bất chấp sự nghiêm cấm pháp luật, cố ý mua trái phép chất ma túy về trao đổi trả công cho người nghiện làm nương và bán lẻ nên sẽ phải chịu một hình phạt đích đáng cho hành vi của mình đã gây ra. Xác định nguyên nhân phạm tội có thể thấy rằng bản thân bị cáo không có công ăn, việc làm ổn định, lao động nông nghiệp vất vả, không đủ sinh sống nên bị cáo mới cố thực hiện hành vi phạm tội như ngày hôm nay.
Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đề xuất về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Như phân tích tại các mục [1] và [2], Hội đồng xét xử cần chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hộị và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy thu nhập của bị cáo chỉ dựa vào làm nông nghiệp, kinh tế khó khăn, tài sản trong gia đình chỉ là đồ dùng thiết yếu, do vậy Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đã đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Vật chứng thu giữ của Lò Thị S là 2,59 gam Heroine đã trích gửi giám định không hoàn lại 0,22 gam còn 2,37 gam Heroine là chất thuộc Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Thái sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra xử lý được người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo vì không đủ thông tin, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Thị S ( tên gọi khác: không) phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Thị S 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2022.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 2,59 gam Heroine đã giám định hết 0,22 gam còn lại 2,37 gam.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 28/7/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Thị S.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 17 tháng 8 năm 2022./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan điều tra C.A huyện Đ; - Phòng NVHS CA huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nga Lò Văn Hiến Tòng Văn Quân Lê Hồng Quang |