- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Th - Su dung trai phep chat ma tuy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2026/HSST Ngày: 14-05-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Thanh Nga
2/ Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Kim Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 75/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2026 đối với:
Nguyễn Văn T (tên gọi khác: T heo), Giới tính: Nam – Sinh ngày: 18/05/1990 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi cư trú: khu phố E, phường B, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Huỳnh Thị B, sinh năm: 1953; Anh chị em ruột: Có 08 người, bị can là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền án: không;
Tiền sự:
Ngày 02/11/2023, TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 88, chấp hành xong ngày 03/01/2025.
Nhân thân:
- Ngày 21/05/2013, TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 80, chấp hành xong hình phạt ngày 29/8/2017.
- Ngày 08/01/2025, UBND phường P (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng) áp dụng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn từ ngày 08/01/2025 đến ngày 03/01/2027 tại Quyết định số 05.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/02/2026, hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam P (cơ sở 1) thuộc Trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh L. OTU140526.TL.QDBA.1123
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Thiết bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 88 ngày 02/11/2023 của TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là TAND Khu vực 10- Lâm Đồng), đến ngày 03/01/2025 chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc trở về địa phương, T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 05 ngày 08/01/2025 của UBND phường P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng), thời hạn quản lý từ ngày 08/01/2025 đến ngày 03/01/2027.
Vào khoảng 15 giờ ngày 09/11/2025, T đi bộ đến khu vực chợ B1 thuộc phường T, tỉnh Lâm Đồng gặp 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán. T đưa 300.000 đồng cho nam thanh niên, nam thanh niên nhận tiền rồi bỏ đi khoảng 10 phút sau quay lại, đưa cho T 01 túi nylon nhỏ, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín 02 đầu chứa ma túy đá cùng 01 nỏ thủy tinh gắn sẵn vào nắp chai nhựa nên T bỏ vào túi quần và đi bộ đến căn nhà bỏ hoang trên đường M thuộc phường B, tỉnh Lâm Đồng dùng bật lửa đốt nóng ma túy và hít vào cơ thể, sử dụng xong T bỏ nỏ thủy tinh gắn sẵn vào nắp chai nhựa vào bụi cây ở gần đó, rồi đi về nhà tại khu phố E, phường B, tỉnh Lâm Đồng.
Đến ngày 11/11/2025, Công an phường B triệu tập T đến trụ sở làm việc. Tại đây, T khai nhận ngày 09/11/2025 đã sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B đã đưa T đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L xét nghiệm, kết quả T dương tính với chất ma túy nên đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của T để trưng cầu giám định.
Vật chứng của vụ án:
- 02 hũ nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, có kích thước (chiều cao 5,5cm, đường kính 3,5cm, mỗi hũ chứa 40ml/ 01 hũ), bên trong có chứa mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T.
Tại Kết luận giám định số 1357 ngày 21/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu gửi giám định.
Mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định. Không hoàn trả mẫu vật.
Xử lý vật chứng: không. Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKS-HS ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 điều 256a Bộ luật Hình sự. OTU140526.TL.QDBA.1123
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng phát biểu lời luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Luật 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ảnh hưởng đến gia đình, xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân vi phạm pháp pháp luật, ảnh hưởng xấu đến xã hội, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở về với gia đình, bị cáo không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời khai nhận này của bị cáo Nguyễn Văn T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 09/11/2025 T đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tự đốt nóng chất ma túy loại Methamphetamine và hít vào cơ thể của T đến ngày 11/11/2025 thì bị phát hiện. OTU140526.TL.QDBA.1123 Tại Cáo trạng số 128/CT-VKS-HS ngày 16 tháng 4 năm 2026 và tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T theo điểm b khoản 1 điều 256a Bộ luật Hình sự, Luật 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo nhận thức được “Methamphetamine” là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng…trái phép, vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người trong cộng đồng và trật tự trị an xã hội. Tuy nhận thức được điều này nhưng bị cáo vẫn bất chấp sự trừng trị của pháp luật, bất chấp hậu quả mà ma túy mang lại vẫn cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép, mặc dù bị cáo đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc, nhưng sau đó đang trong thời hạn quản ý sau cai nghiện ma túy bị cáo vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Xét thấy, với tình hình tội phạm về ma túy đang ngày một gia tăng, tình hình tội phạm về ma túy diễn biến hết sức phức tạp, thu hút nhiều con nghiện ở các địa phương khác đến mua bán, tàng trữ, sử dụng…ma túy, dư luận xã hội bất bình. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo xét thấy: Hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt này không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Ngoài ra mức hình phạt đối với bị cáo còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội OTU140526.TL.QDBA.1123 “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Qua đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Luật 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Xét lời đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật. [6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng, tài sản gồm: 02 hũ nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, có kích thước (chiều cao 5,5cm, đường kính 3,5cm, mỗi hũ chứa 40ml/01 hũ), bên trong có chứa mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T.
Mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định. Không hoàn trả mẫu vật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/2/2026.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2026).
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 10, Lâm Đồng; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã, phường nơi b/c thường trú; - Thi hành án khu vực 10, Lâm Đồng; - Lưu hồ sơ. OTU140526.TL.QDBA.1123 OTU140526.TL.QDBA.1123 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Thị Yến Linh |