vanban.org

Bản án 80/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lò Văn V 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn V - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2026/HS-ST
Ngày 10-3-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Phanh.

2. Bà Hà Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thu Quỳnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Đanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2026/TLST - HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn V, sinh ngày 10/03/1990 tại xã M, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản K, xã M, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn X, sinh năm 1954 và bà: Lò Thị L, sinh năm 1963; Vợ: Đèo Thị N, sinh năm 1989; Con: bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006; con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.

- Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể:

+ Tại bản án số 47/2017/HSST ngày 16/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên (cũ), tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn V 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

+ Tại bản án số 107/2021/HSST ngày 08/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên (cũ), tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn V 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2025 đến nay, bị cáo có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O, Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn V sử dụng chất ma tuý từ năm 2010, ngày 15/9/2025 Lò Văn V có đơn tự nguyện tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Trung tâm y tế T. Đến ngày 17/10/2025, Lò Văn V uống thuốc Methadone tại cơ sở cấp pháp thuốc Trạm y tế xã M, tỉnh Lai Châu.

Khoảng 22 giờ ngày 21/10/2025, Lò Văn V một mình đi bộ từ nhà ở bản K, xã M lên lên bản Nậm Pắt, xã M, tỉnh Lai Châu thì gặp và mua được của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng với số tiền 50.000 đồng. Sau đó, V đi ra bụi cây ven đường tại bản N, xã M, tỉnh Lai Châu rồi lấy bơm kim tiêm và nước cất đã chuẩn bị sẵn từ trước ra pha hết toàn bộ gói Heroin vừa mua được rồi tiêm chích hết toàn bộ ma túy vào bắp cánh tay phải, sử dụng Heroin xong V ném bơm kim tiêm đi rồi đi bộ về nhà. Đến hồi 08 giờ 40 phút ngày 23/10/2025, Công an xã M và Trạm y tế xã M phối hợp kiểm tra ma túy đối với Lò Văn V cho kết quả “Dương tính”. Sau đó Công an xã M đã tiến hành lập biên bản sự việc, lấy mẫu nước tiểu Lò Văn V, niêm phong gửi đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số: 2932/KL- KTHS, ngày 28/10/2025 của Phòng K

- Công an tỉnh P kết luận: Tìm thấy M trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là Mẫu nước tiểu thu giữ của Lò Văn V, sinh năm 1990, trú tại bản Khiết, xã M, tỉnh Lai Châu đựng trong chai nhựa được niêm phong trong phong bì giấy gửi giám định.

Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.

Heroine (tên khoa học là D) là chất ma túy quy định tại STT9, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản Cáo trạng số 74/CT-VKSKV2, ngày 13/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu để xét xử Lò Văn V về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn V từ 02 năm đến 02 năm 09 tháng tù và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn V sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo V được hưởng mức án thấp nhất dưới khung hình phạt, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì. Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Lò Văn V là người đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Tạm y tế xã M, tỉnh Lai Châu. Khoảng 22 giờ ngày 21/10/2025, tại bản Nậm Pắt, xã M, tỉnh Lai Châu, Lò Văn V đã có hành vi sử dụng trái phép Heroin bằng hình thức chích. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của Lò Văn V có tìm thấy M (là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người).

Bị cáo Lò Văn V là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù đang tham gia điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế và bị cáo nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lò Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã từng 02 lần bị Tòa án xét xử và tuyên phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy quá trình lượng hình, hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phiên toà, đại điện Viện kiểm sát khu vực 2 – Lai Châu đề nghị xử phạt bị cáo V mức án từ 02 năm đến 02 năm 09 tháng tù, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo V được hưởng mức án thấp dưới khung hình phạt. Xét thấy đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt cho bị cáo Lò Văn V là chưa đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Lò Văn V của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu đối với các bị cáo tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

- Về vật chứng của vụ án: Mẫu nước tiểu của Lò Văn V đã được niêm phong gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Đối với chiếc bơm kim tiêm sau khi sử dụng xong Heroine thì Lò Văn V vứt tại hiện trường không thu giữ được, do vậy không xem xét xử lý.

- Đối với nguồn gốc H sử dụng, Lò Văn V khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản N, xã M, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không có căn cứ điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Lò Văn V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn V 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2025.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ