- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2026/HS-ST Ngày: 26 – 8 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Phong và ông Bùi Văn Quyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Cơ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2026/QĐXXST-HS ngày 03/8/2026 đối với bị cáo:
BÙI VĂN N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/6/1995; số CCCD 017095004765; nơi cư trú: Xóm S (nay là xóm C), xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B, sinh năm 1960 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1960; chưa có vợ con; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 17/8/2023, bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tình H (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện băt buộc (Quyết định số 71/QĐ-TA), thời hạn 24 tháng. Đến ngày 19/7/2025 chấp hành xong quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 09/10/2023, bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145/QĐ-XPHC, mức phạt tiền là 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 22/5/2026; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn N là đối tượng thuộc diện đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 22/QĐ-UBND, ngày 23/7/2025 của Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Khoảng tháng 8/2025, Bùi Văn N đến khu công nghiệp Đ, phường L, tỉnh Ninh Bình để tìm việc và làm thuê tại đây. Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 20/5/2026, Bùi Văn N đi xung quanh khu vực phường L, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma tuý, tại đây N gặp một người đàn ông không quen biết, có biểu hiện giống người nghiện ma tuý nên đã đến hỏi và mua được 01 gói ma tuý với số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng của người đàn ông này, mua được ma tuý Nhuận trở về phòng trọ. Đến sáng ngày 21/5/2026 Bùi Văn N đón xe khách đi về nhà tại xóm S, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, về đến gần nhà N tìm một bãi đất trống ít người qua lại sử dụng hết số ma túy mua được bằng hình thức cho H lên giấy bạc dùng bật lửa đốt rồi hít trực tiếp vào cơ thể. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày Công an xã Đ, tỉnh Phú Thọ yêu cầu Bùi Văn N đến trụ sở để làm việc, tiến hành test nhanh chất ma túy đôi với Bùi Văn N, kết quả: mẫu nước tiểu của Bùi Văn N dương tính với chất ma túy MOP (Heroine). Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu, niêm phong mẫu nước tiểu của Bùi Văn N trưng cầu giám định theo quy định của Pháp luật. (BL 02, 64-75).
Tại kết luận giám định số 2743/KL-KTHS ngày 22/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong chai nhựa dán giấy niêm phong ghi "Mẫu nước tiểu thu giữ của Bùi Văn N, sinh ngày 07/6/1995, nơi đăng ký NKTT: Xóm S, xã Đ, tỉnh Phú Thọ" gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine. BL 06).
Cáo trạng số 37/CT-VKS-KV15 ngày 23/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ truy tố Bùi Văn N về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng và không kêu oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn N từ 24 đến 30 tháng tù.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Áp dụng khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các ý kiến tranh luận: Không có;
Bị cáo Bùi Văn N không trình bày lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 20/5/2026, Bùi Văn N có hành vi mua 500.000đ (năm trăm nghìn) đồng ma túy loại Heroine của một người đàn ông không quen biết tại khu vực khu vực phường L, tỉnh Ninh Bình, ngày 21/5/2026 đã sử dụng hết số ma túy trên. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã Đ, tỉnh Phú Thọ tiến hành thu mẫu nước tiểu và gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine. Bị cáo Bùi Văn N đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ, nhưng bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Sử dụng trái phép chất ma túy". Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên không chịu lao động lương thiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, không chịu rèn luyện bản thân dẫn đến nghiện ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm mà không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo có ông nội là Bùi Văn H1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bố đẻ là ông Bùi Văn B được nhà nước tặng thưởng Huân chương hạng Ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên L đã bán ma túy cho Bùi Văn N tại khu vực phường L, tỉnh Ninh Bình, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/5/2026.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ (cơ sở 3); - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Phú Thọ; - Phân trại tạm giam Lạc Thủy, Công an tỉnh Phú Thọ; - CQ THAHS Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15 - Phú Thọ; - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Hương |