vanban.org

Bản án 80/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27/02/2026
V/v “ Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hà Thía.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Kim Phượng;

2. Bà Đoàn Sơn Lâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Đại diện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 308/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1998 (Có mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1996 (Vắng mặt lần 2).

Cùng địa chỉ: ấp Q, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết trình bày như sau: Hôn nhân của bà và ông Đỗ Thanh T đến với nhau là do tự quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng thời gian thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới năm 2021, có đăng ký kết hôn ngày 05/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ).

Bà và ông T sau khi cưới sống chung với gia đình chồng, do con nhỏ nên bà chăm sóc con để chồng đi làm. Năm 2025 bà đi làm để phụ giúp kinh tế gia đình với chồng; vợ chồng gửi con cho mẹ chồng chăm sóc. Bà và ông T đi làm nhưng khác công ty nên không cùng giờ làm việc, bà cảm nhận tình cảm ông T dành cho bà có sự phai nhạt nhưng bà chỉ lo làm kiếm thu nhập phụ giúp cho gia đình nên không quan tâm đến sự thay đổi này. Tháng 7/2025 ông T đề nghị bà cùng về nhà thăm con nhưng không đi chung xe; khi bà về tới nhà thì ông T bỏ đi không về nhà, tìm cách né tránh không liên lạc với bà; mẹ chồng không đồng ý cho bà tiếp tục chung sống với ông T. Bà đã tìm cách liên lạc với ông T nhưng không được và ly thân từ tháng 7/2025 cho đến nay. Nhận thấy, hôn nhân không hàn gắn được nên bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông T có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/7/2023, từ khi ly thân ông T trực tiếp chăm sóc con chung; bà đi làm chưa ổn định nên khi ly hôn bà giao con cho ông T tiếp tục nuôi con; không cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 1.200.000 đồng, tính từ khi Bản án có hiệu lực đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Thanh T mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không chấp hành giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; đồng thời vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và các đương sự đều chấp hành tốt quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn với ông T. Về con chung, giao cháu N cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, công nhận nguyên đơn tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.200.000 đồng, tính từ khi Bản án có hiệu lực đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, riêng và nợ không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa: [1] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H xin ly hôn với bị đơn ông Đỗ Thanh T thì đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 4 - Cần Thơ. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không lý do nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn nêu trên.

Về hôn nhân của bà H và ông T là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn của ông, bà chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ, chồng không còn quan tâm chăm sóc yêu thương nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được; điều này cũng phù hợp với biên bản xác minh Tòa án lập ngày 07/01/2026. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/7/2023, từ khi ly thân, ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn nguyên đơn đồng ý giao ông T tiếp tục nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.200.000 đồng, tính từ khi Bản án có hiệu lực đến khi con chung đủ 18 tuổi, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đối với bị đơn nếu có yêu cầu chia tài sản chung, riêng và nợ thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất về nội dung giải quyết trong vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 4, 5, 6, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 54, 56, 69, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đỗ Thanh T.

- Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/7/2023 cho ông Đỗ Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi; công nhận bà Trần Thị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu N là 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho các đương sự, không ai được cản trở nguyên đơn thực hiện quyền này. Vì lợi ích con chung, nguyên đơn, bị đơn có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Không xem xét giải quyết. Đối với bị đơn nếu có yêu cầu chia tài sản chung, riêng và nợ thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

- Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0009613 ngày 13/11/2025. Bà Trần Thị H phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ