- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Hà P - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Hà P phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 119 Luật LTPNCTN; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2025/HS-ST Ngày 08-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Hiền – Giáo viên, Phó Hiệu trưởng, Trường tiểu học và trung học cơ sở Đông Quý, tỉnh Hưng Yên;
- Bà Phan Thị Hạnh Mỹ – Giáo viên, Trường trung học cơ sở Nguyễn Công Trứ, tỉnh Hưng Yên;
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết Trinh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 08/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2026/TLST-HS ngày 27/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2026/QĐXXST-HS ngày 02/4/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2026/HSST-QĐ ngày 17/4/2026 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 01/2026/TB-TA ngày 23/4/2026, đối với bị cáo: Hoàng Hà P, sinh ngày 19 tháng 4 năm 2008 tại xã T, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn L, xã T, tỉnh Hưng Yên; số định danh cá nhân: 034208000920; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Ngô Thị Tuyết T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/3/2026, bị cáo Hoàng Hà P bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố điều tra về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 (sau đây viết tắt là BLHS); bị bắt tạm tạm giam từ ngày 26/02/2026 (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1981 và bà Ngô Thị Tuyết T, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Hưng Yên (bố, mẹ đẻ của bị cáo; ông N có mặt, bà T vắng mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H, Trợ Giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm T2 – Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Bùi Đức K, sinh năm 2007; địa chỉ: Số A, tổ dân phố T, xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt) và anh Nguyễn Hoài N1, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố số B, xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
Những người làm công tác xã hội: Ông Đặng Hồng V, Chuyên Viên Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt) và ông Vũ Đức C, Bí Thư Đoàn thanh niên Cộng sản H1, xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 10/2025, bị cáo Hoàng Hà P đã sử dụng điện thoại Iphone X, vỏ màu đen số IMEI1 353057092287682, số máy MQA62LL/A, số seri G6TVWP61JCLG, lắp sim điện thoại số 0776534656 để kết nối điện thoại với mạng Internet và đăng nhập vào đường link web có tên hit.club để tải ứng dụng “Shankhya” đây là ứng dụng nền tảng đánh bạc trong đó có nhiều trò chơi game bài, tài xỉu, casino online được thua bằng tiền, đối với website này không được thẩm định và cấp phép hoạt động tại Việt Nam, bị cáo P mở ứng dụng, đăng ký tài khoản cho mình tên “meyeulinh”, mật khẩu bị cáo P đặt lưu tự động nên không nhớ, sau đó bị cáo P mượn số tài khoản ngân hàng của Bùi Đức K, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ dân phố T, xã T, tỉnh Hưng Yên để nạp tiền đánh bạc và nhận tiền thắng bạc, khoảng 15 giờ 20 phút ngày 04/10/2025, bị cáo Hoàng Hà P đến quán điện thoại của anh Nguyễn Hoài N1, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố số B, xã T, tỉnh Hưng Yên để bán cho anh N1 01 điện thoại Iphone giá 2.200.000 đồng, bị cáo P bảo với anh N1 chuyển số tiền bán điện thoại 2.200.000 đồng vào số tài khoản 1048824193 của Bùi Đức K tại ngân hàng V1, sau đó bị cáo P nhờ K chuyển số tiền 2.200.000 đồng vào số tài khoản 670001060008598 của ngân hàng thương mại cổ phần B (B1) mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 10/02/1999; địa chỉ: Ấp T, M, Chợ M, An Giang (số tài khoản này trang web đánh bạc chỉ định để bị cáo P nạp tiền để đánh bạc qua mạng) bắt đầu từ 15 giờ 27 phút cùng ngày bị cáo P đã sử dụng điện thoại nêu trên đánh bạc hình thức chơi Sicbo Đại P, T1 xỉu, T1 xỉu MD5 và chơi 53 ván bạc, bị cáo P thắng bạc, đến 16 giờ 08 phút thì tài khoản số tài khoản 1048824193, mang tên Bùi Đức K tại ngân hàng V1 nhận về số tiền 7.490.009 đồng, bị cáo P không nói với anh K về việc mượn tài khoản tại ngân hàng của anh K để chuyền tiền đánh bạc, nhận tiền đánh bạc, số tiền 7.490.009 đồng bị cáo P yêu cầu anh K rút tiền trả cho P, bị cáo P cũng không cho anh K số tiền nào và bị cáo P sử dụng số tiền 7.490.009 đồng này để chi tiêu hết cho cá nhân. Cùng với hình thức đánh bạc như nêu trên, vào ngày 01/10/2025 bị cáo Phương N2 số tiền 1.070.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc nhận về số tiền 1.600.000 đồng và ngày 07/10/2025 bị cáo Phương N2 số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc, nhận về số tiền 2.400.000 đồng.
Cáo trạng số 14/2026/CT-VKSKV6 ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Hoàng Hà P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của BLHS.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Hoàng Hà P thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã truy tố đối với các bị cáo.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX):
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hà P phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38, Điều 50, Điều 38 của BLHS; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên (sau đây viết tắt là LTPNCTN). Xử phạt bị cáo Hoàng Hà P từ 01 (năm) 10 (mười) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam;
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS): Buộc bị cáo Hoàng Hà P nộp lại số tiền đã dùng để đánh bạc 7.490.009 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, vỏ màu đen số IMEI1 353057092287682, số máy MQA62LL/A, số seri G6TVWP61JCLG, lắp sim điện thoại số 0776534656 thu được của bị cáo Hoàng Hà P.
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của BLTTHS; Điều 14, khoản 6 Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Hà P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng các Điều 331, 333 của BLTTHS. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho bị cáo Hoàng Hà P trong thời hạn luật định.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu bào chữa: Nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên về tội danh và điều luật áp dụng, về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét về nguyên nhân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo và bị cáo tuổi còn trẻ nên nhận thức về pháp luật của bị cáo còn hạn chế đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến bổ sung lời bào chữa, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên toà sơ thẩm vắng mặt những người làm chứng nhưng họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra, căn cứ vào Điều 293 của BLTTHS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo trình tự chung.
Từ 15 giờ 27 phút đến 16 giờ 08 phút, ngày 04/10/2025, tại quán điện thoại của anh Nguyễn Hoài N1, địa chỉ: Tổ dân phố số B, xã T, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Hoàng Hà P đã cố ý đánh bạc dưới hình thức sử dụng mạng Internet đăng nhập vào ứng dụng trang web đánh bạc Shankhya để chơi các hình thức đánh bạc như Sicbo Đại Phú Q, T1 xỉu, T1 xỉu MD5, bị cáo P bỏ ra 2.200.000 đồng chơi 53 ván bạc, đến 16 giờ 08 phút thì bị cáo P thắng bạc với số tiền 5.290.009 đồng, tổng số tiền bị cáo P sử dụng vào việc đánh bạc qua mạng ngày 04/10/2025 là 7.490.009 đồng.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra (bút lục 78 đến bút lục số 80; bút lục số 84 đến bút lục số 87; bút lục số 90 đến bút lục số 109) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại; bảng kê các lần nạp rút tiền để đánh bạc, bản sao lịch sử cá cược để đánh bạc qua mạng của bị cáo P (bút lục từ số 02 đến bút lục số 23; bút lục 116, 117); bản sao kê tài khoản của ngân hàng B2 đến bút lục số 182; văn bản trả lời của trung tâm I, Bộ K1 và Cục P1 (bút lục số 45, 46); lời khai của những người làm chứng (bút lục từ 81 đến 98); vật chứng của vụ án 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, vỏ màu đen số IMEI1 353057092287682, số máy MQA62LL/A, số seri G6TVWP61JCLG, lắp sim điện thoại số 0776534656 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận, hành vi phạm tội mà bị cáo P đã thực hiện nêu trên, đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của BLHS.
Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a)...
...
c) Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d)...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hoàng Hà P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Hoàng Hà P thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo Hoàng Hà P đã gây ra, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, HĐXX nhận thấy, bị cáo Hoàng Hà P là người chưa thành niên phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo P đã thực hiện xâm phạm đến sự an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 50 và Điều 38 của BLHS; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 119 của Luật LTPNCTN để quyết định một hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng trừng trị, giáo dục đối với các bị cáo, phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm.
Do bị cáo Hoàng Hà P là người chưa thành niên phạm tội, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX nhận thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Hà P được quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS: Buộc bị cáo Hoàng Hà P phải nộp lại sổ tiền dùng để đánh bạc ngày 04/10/2025 là 7.490.009 đồng để sung quỹ Nhà nước. Đối 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, vỏ màu đen số IMEI1 353057092287682, số máy MQA62LL/A, số seri G6TVWP61JCLG, lắp sim điện thoại số 0776534656 thu được của bị cáo Hoàng Hà P là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của BLTTHS; Điều 14, khoản 6 Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của BLTTHS. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Hà P phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Hoàng Hà P 01 năm 09 tháng (một năm chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/02/2026.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025. Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Buộc bị cáo Hoàng Hà P nộp lại số tiền đánh bạc 7.490.009 đồng để sung quỹ Nhà nước; tịch thu 01 chiếc điện thoại di động Iphone X, vỏ màu đen, lắp sim điện thoại số 0776534656 thu được của bị cáo Hoàng Hà P để hóa giá sung quỹ Nhà nước.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Hưng Yên).
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của BLTTHS; Điều 14, khoản 6 Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Hà P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo Hoàng Hà P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 6 -Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo: - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Xuân Bằng |