- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Đ ly hôn với ông Hồ Văn T"
- Tòa quyết gì? Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiền
2. Ông Sử Văn Trai Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 8 tháng 9 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là ấp B, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là ấp B, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và bản khai bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà Đ và ông T tự nguyên tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/9/2000. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cãi. Bà Đ và ông T không còn sống chung đến nay khoảng 03 năm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Đ xin ly hôn với ông T.
Về con chung: Có ba con chung tên là Hồ Duy K, sinh ngày 27/7/2001, Hồ Duy K1, sinh ngày 23/4/2015 và Hồ Duy K2, sinh ngày 06/8/2016. Con chung Hồ Duy K đã trưởng thành, bà Đ không yêu cầu giải quyết. Bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 khi ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Hồ Văn T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa,ông T không gửi văn bản trình bày ý kiến về những nội dung có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long phát biểu quan điểm cho rằng: Thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ, cụ thể: Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Văn T. Về con chung: Hồ Duy K, sinh ngày 27/7/2001, đã trưởng thành, bà Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Bà Đ được quyền nuôi con chung Hồ Duy K1, sinh ngày 23/4/2015 và Hồ Duy K2, sinh ngày 06/8/2016, ông T không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung do bà Đ không yêu cầu. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Hồ Văn T thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Hồ Văn T có nơi cư trú tại xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long thụ lý đúng thẩm quyền.
Bà Nguyễn Thị Đ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông Hồ Văn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ và ông T theo quy định tại các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Hồ Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Bà Đ cho rằng hôn nhân giữa bà và ông T không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Theo bà Đ trình bày thì nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cải vả; bà Đ và ông T đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành và đã sống ly thân đến nay được 03 năm. Quá trình Tòa án giải quyết thì ông T không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về hôn nhân giữa bà Đ và ông T và cũng không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đ đối với ông T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: ba con chung tên là Hồ Duy K, sinh ngày 27/7/2001, Hồ Duy K1, sinh ngày 23/4/2015 và Hồ Duy K2, sinh ngày 06/8/2016. Đối với con chung Hồ Duy K, hiện đã trưởng thành, bà Đ và ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 khi ly hôn. Khi được Toà án lấy ý kiến thì cháu Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 có nguyện vọng được sống cùng bà Đ khi bà Đ và ông Tư ly H. Bà Đ cũng đảm bảo tốt việc nuôi dưỡng con, cháu Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 cũng đã thích nghi với môi trường sống và với việc chăm sóc, giáo dục của bà Đ. Ông T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển của cháu Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 cả về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ, giao con chung là Hồ Duy K1 và Hồ Duy K2 cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ trình bày tự thoả thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và trình bày không có nợ chung; ông T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của ông T về việc yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Bà Đ là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ, cụ thể:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Văn T.
2. Về con chung: Hồ Duy K, sinh ngày 27/7/200, đã trưởng thành, bà Nguyễn Thị Đ và ông Hồ Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Giao con chung tên là Hồ Duy K1, sinh ngày 23/4/2015 và Hồ Duy K2, sinh ngày 06/8/2016 cho bà Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Đ không yêu cầu ông Hồ Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn T hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn T có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số tòa án số 0011663 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là đủ.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Các đương sự (2b) ; - TAND tỉnh Vĩnh Long (1b) ; - VKSND khu vực 9 – Vĩnh Long (1b); - THADS tỉnh Vĩnh Long (1b); - UBND xã Thới Thạnh, tỉnh Vĩnh Long (1b) ; - Lưu HS, VP (3b) TC:9b . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |