vanban.org

Bản án 80/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 04/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiến B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Đỗ Tiến B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Tiến Bằng phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiến B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HSST
Ngày 04/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Sinh Tụ

2. Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên toà: Bà Quản Mỹ Hạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành

phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Tiến B, tên gọi khác: không. Sinh ngày 22/9/1971. ĐKHKTT: Tổ dân

phố ĐB, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Sán dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Tiến H, đã chết; Con bà Diệp Thị M; Vợ là Nguyễn Thị B; có 02 con; Tiền sự: Không. Tiền án: Bản án số 165/2021/HSST ngày 13/5/2021 của TAND thành phố TN xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 02/7/2022.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên

(bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1957. Vắng mặt

Trú tại: Tổ dân phố Đồng Tâm, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái

Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, tổ công tác của Công an phường ĐB,

thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố ĐB của phường phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai nhận họ tên là Đỗ Tiến B, đồng thời tự lấy từ bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. Bằng khai nhận gói giấy là ma túy Heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bằng và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở

niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Đỗ Tiến B có khối lượng 0,152 gam và lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 280/KL-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý; Loại Heroine; Có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,152gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Tiến B khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 20/01/2024,

Bằng đi bộ từ nhà tại tổ dân phố ĐB, phường ĐB, thành phố TN đến khu vực Cầu Gia Bẩy, thuộc phường ĐB để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Bằng gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng 45 tuổi 01 gói Heroine được gói trong giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Bằng cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng nhưng khi đến khu vực tổ dân phố ĐB thì bị tổ công tác của Công an phường ĐB phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2 bên trong chứa ma

túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKSNDTPTN, ngày 11/3/2024 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đỗ Tiến B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã

mô tả, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

TN trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đỗ Tiến B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản

1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Đỗ Tiến B từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu

hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị

cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, tại khu vực tổ dân phố ĐB, phường

ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Đỗ Tiến B có hành vi tàng trữ trái phép 0,152gam chất ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường ĐB, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo Đỗ Tiến B về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền án về tội” tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không

có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Vật chứng vụ án: Đối với 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong

chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn

ông không quen biết tại khu vực cầu Gia Bẩy thuộc phường ĐB, thành phố TN. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiến B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản

1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Đỗ Tiến B 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 129 ngày

03/4/2024 giữa Công an thành phố TN và Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho

biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ