vanban.org

Bản án 80/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 14/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Sa Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Sa Văn N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/6/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Sa Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST
Ngày 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy; Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 14/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:

* Sa Văn N, sinh năm 1984, tại xã H, huyện P, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; HKTT: Bản T, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Sa Văn N1 (Đã chết), con bà: Đinh Thị N2, sinh năm 1948; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 05 chị, em, bị cáo là con thứ năm; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/3/2015, Sa Văn N bị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo chấp hành xong án ngày 10/4/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, (Có mặt).

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1954.

HKTT: thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Bùi Văn V, sinh năm 1976.

HKTT: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Đinh Thế H, sinh năm 1999.

HKTT: xóm M, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

(Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 35 phút ngày 09/6/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang tại trục đường khu công nghiệp thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Sa Văn N sinh năm 1984, HKTT: Bản T, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: Phòng trọ thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên đang mang ma túy đi bán. Kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên phải Sa Văn N đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có 10 gói giấy gồm 05 gói giấy màu trắng và 05 gói giấy bạc màu trắng, trong các gói đều chứa các cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 kèm theo sim liên lạc (điện thoại bị vỡ kính bảo vệ màn hình); 01 xe mô tô Honda Wave α màu xanh đen, biển số 28E1 – 270.72 và số tiền 400.000 đồng. Sa Văn N khai nhận hiện đang ở trọ tại nhà ông Ông Bùi Văn V ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Cùng ngày, khám xét tai nhà trọ thu giữ của N 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Sa Văn N.

Kết luận giám định số 435/KL-KTHS (MT) ngày 12/6/2024 của Phòng K

- Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1 có khối lượng 0,485g là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan Điều tra, Sa Văn N thừa nhận số ma túy loại Heroine thu giữ là của N. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Sa Văn N khai sáng ngày 09/6/2024, N đến khu vực chợ N3, thị trấn N, tỉnh Hưng Yên mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 770.000 đồng được 11 gói. N đã sử dụng 01 gói, còn lại 10 gói ma túy N mang đến trục đường khu công nghiệp thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên với mục đích để bán nhưng chưa kịp bán đã bị Cơ quan Điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang.

Đối với người bán ma túy cho Sa Văn N, do N không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của đối tượng nên chưa đủ thông tin để xác minh xử lý.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave α màu xanh đen, biển số 28E1 - 270.72, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H xác minh chiếc xe mô tô đăng ký mang tên Đinh Thế H, sinh năm 1999, HKTT: xóm M, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Tại Cơ quan Điều tra, anh H trình bày: Trưa ngày 09/6/2024, N mượn H xe để đi ăn cơm, H không biết N sử dụng chiếc xe mô tô này để đi bán ma túy. Xác định chiếc xe trên không là vật chứng liên quan đến vụ án. Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh H.

- Số tiền 400.000 đồng đang gửi trong tài khoản tạm thu chờ xử lý của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

- 01 Căn cước công dân mang tên Sa Văn N hiện đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án.

Các vật chứng, đồ vật hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh H gồm:

- 01 (một) Phong bì hoàn mẫu vật sau giám định ghi số: 435/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H, trên phong bì có ba chữ ký và ba dấu tròn.

- 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 kèm theo sim liên lạc (điện thoại bị vỡ kính bảo vệ màn hình).

Cáo trạng số 72/CT-VKS-P1 ngày 24 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố Sa Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Sa Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người thuộc hộ nghèo; bị cáo nộp cho Tòa đơn xin được giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Sa Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Sa Văn N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) Phong bì hoàn mẫu vật sau giám định ghi số: 435/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H, trên phong bì có ba chữ ký và ba dấu tròn.

- Trả lại bị cáo: Số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 kèm theo sim liên lạc (điện thoại bị vỡ kính bảo vệ màn hình); 01 Căn cước công dân mang tên Sa Văn N.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sa Văn N.

Bị cáo nhất trí, không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 09/6/2024 tại trục đường khu công nghiệp thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Sa Văn N mang 10 gói ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 0,485 gam nhằm mục đích để bán, đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tính chất, tác hại của ma túy đối với con người nhưng với động cơ, mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích bán trái phép cho người khác. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để bán là 0,485 gam ma túy, loại Heroine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Sa Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, dành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; Bị cáo là người thuộc hộ nghèo, nhận thức pháp luật hạn chế; Bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

* Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) Phong bì hoàn mẫu vật sau giám định ghi số: 435/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H, trên phong bì có ba chữ ký và ba dấu tròn không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo khai do đi làm thuê mà có, là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 kèm theo sim liên lạc (điện thoại bị vỡ kính bảo vệ màn hình); 01 Căn cước công dân mang tên Sa Văn N là tài sản, giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

Bị cáo Sa Văn N là người thuộc hộ nghèo có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Sa Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Sa Văn N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/6/2024.

[2]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật sau giám định ghi số: 435/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H, trên phong bì có ba chữ ký và ba dấu tròn.

- Trả lại bị cáo số tiền 400.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 kèm theo sim liên lạc (điện thoại bị vỡ kính bảo vệ màn hình); 01 (một) căn cước công dân mang tên Sa Văn N.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng các vật chứng nêu trên được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H).

[3]. Án phí: Bị cáo Sa Văn N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ