vanban.org

Bản án 80/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo: Lê Thị Tuyết A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Lê Thị Tuyết A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST
Ngày: 02-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nguyên

2/ Ông Lại Hữu Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 04 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Tuyết A; giới tính: Nữ; sinh năm 1981, tại L; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình T và bà Lê Thị A; bị cáo có chồng là: Trương Văn C; có 02 con, lớn sinh năm 2006; nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 50 phút, ngày 27/10/2021, Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện Bình Chánh kết hợp Công an xã Đa Phước tiến hành kiểm tra tại Căn nhà hoang có địa chỉ A, xã Đ, huyện B phát hiện các đối tượng Nguyễn Trí T, Ngô Minh K, Nguyễn Trần Gia P và Nguyễn Tấn G có hành vi tổ chức cho các đối tượng Trần Thị Ngọc N, Đỗ Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc V, Trần Thị N, Ngô Thị Thùy T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị Mai T, Nguyễn Bạch C, Lê Hồng N, Trần Thị Thùy L, Nguyễn Thị Ngọc M, Tao Thị Hoàng D, Nguyễn Thanh T và Bùi Thị Kim H đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 17.030.000 đồng, đưa những đối tượng trên cùng tang vật về trụ sở Công an xã Đa Phước làm việc, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền.

Kết quả điều tra xác định hành vi của các đối tượng cụ thể như sau:

Khoảng đầu tháng 10/2021, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Trí T rủ Ngô Minh K, Nguyễn Trần Gia P và Nguyễn Tấn G tổ chức đánh bài ăn tiền tại căn nhà hoang địa chỉ A, xã Đ, huyện Bình Chánh để lấy tiền xâu chia nhau tiêu xài, tất cả cùng đồng ý. Trong đó, T làm nhiệm vụ cảnh giới, P và K thu tiền xâu, còn G là người phục vụ việc mua cơm, nước và chở các con bạc đi đến điểm đánh bạc.

T quy định sòng bạc hoạt động từ khoảng 16 giờ chiều ngày hôm trước đến khoảng 00 giờ sáng ngày hôm sau thì nghỉ. Hình thức chơi là đánh bài cào 3 lá ăn tiền, mỗi tụ đặt thấp nhất là 100.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng. Nguyễn Trần Gia P và Ngô Minh K đứng ra thu tiền xâu đối với con bạc đặt tụ nếu thắng liên tục 02 ván thì lấy tiền xâu 10.000 đồng, đối với con bạc làm cái nếu thắng thì lấy tiền xâu từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Số tiền lấy xâu có được cuối ngày, K gom lại đưa cho T chia cho Nguyễn Tấn G từ 300.000 đồng đến 600.000 đồng, số tiền còn lại T chia đều cho P, K từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng.

Như thường lệ, vào khoảng 16 giờ ngày 27/10/2021, T, P, K và G bắt đầu tổ chức cho các con bạc chơi đánh bài để lấy tiền xâu. T đứng bên ngoài cảnh giới, K, P lấy tiền xâu của các con bạc, G phục vụ nước uống, đồ ăn cho các con bạc. Sau khi Nguyễn Thanh T làm cái được khoảng 01 tiếng thì Trần Thị Ngọc N và Đỗ Thị Ngọc L hùn với nhau mỗi người 4.800.000 đồng làm cái cho các đối tượng đặt tụ. Đến khoảng 20 giờ 50 cùng ngày, khi L vừa chia bài xong thì bị Cơ quan Công an vào kiểm tra bắt quả tang.

Tại thời điểm bắt quả tang gồm các đối tượng tham gia đánh bạc như sau: Trần Thị Ngọc N, Đỗ Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc V, Trần Thị N, Ngô Thị Thùy T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị Mai T, Nguyễn Bạch C, Lê Thị Tuyết A, Lê Hồng N, Trần Thị Thùy L, Nguyễn Thị Ngọc M, Tao Thị Hoàng D, Nguyễn Thanh T, Bùi Thị Kim H.

Hành vi tham gia đánh bạc của Lê Thị Tuyết A như sau: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/10/2021, Tuyết A đến sòng bạc và mang theo 1.530.000 đồng dùng để đánh bạc. Tuyết A và N hùn nhau tham gia đặt tụ 04 ván khi N và Đỗ Thị Ngọc L hùn nhau làm cái, 02 ván đầu đặt tụ N chia bài Tuyết A và N đặt mỗi tụ này 200.000 đồng (mỗi người 100.000 đồng), 02 ván này Tuyết A và N một ván thua, một ván ăn. Sau đó, Đỗ Thị Ngọc L chia bài 02 ván, Tuyết A và N hùn đặt tụ 200.000 đồng (mỗi người 100.000 đồng), 02 ván này L thắng. Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 27/10/2021, L tiếp tục chia bài ván thứ 3, ván này Tuyết A đặt tụ 200.000 đồng. Khi L chia bài xong chưa phân định thắng thua thì bị cơ quan Công an bắt quả tang. Quá trình chơi đánh bài Tuyết A thua hết 1.300.000 đồng. Xâu cho Khánh 10.000 đồng. Bị thu giữ số tiền 220.000 đồng dùng đánh bạc.

Kết quả điều tra xác định số tiền dùng để đánh bạc của Trần Thị Ngọc N, Đỗ Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc V, Trần Thị N, Ngô Thị Thùy T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị Mai T, Nguyễn Bạch C, Lê Thị Tuyết A, Lê Hồng N, Trần Thị Thùy L, Nguyễn Thị Ngọc M, Tao Thị Hoàng D được xác định cụ thể như sau: 17.030.000 đồng (trên chiếu bạc) + 2.800.000 đồng (tiền N dùng để đánh bạc) + 1.000.000 đồng (tiền L dùng để đánh bạc) + 805.000 đồng (tiền V dùng để đánh bạc) + 2.700.000 đồng (tiền N dùng để đánh bạc) + 2.060.000 đồng (tiền T dùng để đánh bạc) + 1.270.000 đồng (tiền T dùng để đánh bạc) + 1.720.000 đồng (tiền H dùng để đánh bạc) + 4.570.000 đồng (tiền C dùng để đánh bạc) + 220.000 đồng (tiền Tuyết A dùng để đánh bạc) + 1.080.000 đồng (tiền Ngọc M dùng để đánh bạc) = 35.255.000 đồng.

Ngày 04/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh khởi tố vụ án, khởi tố các bị can đối với Nguyễn Trí T, Ngô Minh K, Nguyễn Trần Gia P và Nguyễn Tấn G về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với Trần Thị Ngọc N, Đỗ Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc V, Trần Thị N, Ngô Thị Thùy T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị Mai T, Nguyễn Bạch C, Lê Thị Tuyết A, Lê Hồng N, Trần Thị Thùy L, Nguyễn Thị Ngọc M và Tao Thị Hoàng D về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 12/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh khởi tố các bị can Nguyễn Thanh T và Bùi Thị Kim H về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã kết luận điều tra vụ án đề nghị truy tố 19 bị can. Đối với Lê Thị Tuyết A, sau khi vụ án xảy ra, qua xác minh không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Ngày 04/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Cáo trạng số 28/CT-VKSBC truy tố 19 bị can đến Toà án nhân dân huyện Bình Chánh.

Ngày 16/3/2023, Toà án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử đối với các bị can, đồng thời tuyên xử lý các vật chứng và hình phạt bổ sung theo Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 16/3/2023.

Ngày 18/10/2023, Lê Thị Tuyết A đến công an xã Đ, huyện Bình Chánh đầu thú. Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra quyết định đình nã đối với Tuyết A.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Lê Thị Tuyết A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp lời khai những người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 22/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị Tuyết A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết A với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

Vật chứng của vụ án: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 220.000 đồng của bị cáo dùng để đánh bạc.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng.

2. Bị cáo Lê Thị Tuyết A khai nhận hành vi như bản Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, cùng đồng bọn và nhân chứng tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ cơ sở xác định các bị cáo Lê Thị Tuyết A đã cùng các đối tượng thực hiện hành vi tham gia đánh bạc cùng với các đối tượng khác bằng hình thức bài cào 03 lá ăn tiền. Số tiền bị cáo cùng đồng bọn dùng để đánh bạc trên 5.000.000 đồng thì bị bắt quả tang vào ngày 27/10/2021 tại địa chỉ A, xã Đ, huyện B. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

Ngày 16/3/2023, Toà án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử đối với các bị cáo trong vụ án đánh bạc trên theo Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 16/3/2023.

Riêng bị cáo Lê Thị Tuyết A, do quá trình điều tra không có mặt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra bị can, ra lệnh truy nã. Đến ngày 18/10/2023, Lê Thị Tuyết A đến Công an xã Đa Phước, huyện Bình Chánh đầu thú. Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra quyết định đình nã đối với Tuyết A.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi đánh bạc bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì vụ lợi, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc. Ngoài ra bị cáo còn bỏ trốn và bị bắt khi truy nã gây mất thời gian cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, cần đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm, để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bên cạnh đó cần buộc bị cáo nộp phạt bổ sung một số tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo tự nguyện ra đầu thú nên cần được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng của vụ án: Đã được xử lý theo bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 16/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh. Riêng số tiền 220.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng của Lê Thị Tuyết A đã được tách ra khi nào bắt được Tuyết A sẽ xử lý sau. Số tiền này bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Riêng điện thoại bị cáo dùng cá nhân không liên quan đến việc đánh bạc, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử phạt bị cáo: Lê Thị Tuyết A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023.

2. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 220.000 đồng thu giữ của bị cáo;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng thu giữ của bị cáo.

(Các vật chứng trên, Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2023 và Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 18/01/2024 giữa công an huyện Bình Chánh với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ