vanban.org

Bản án 80/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cháu Đặng Thị Bích N1 - Sinh ngày 14/8/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đặng Thị Bích N1 đủ 18 tuổi. Anh Đặng Xuân L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đặng Xuân L có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Đặng Xuân L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27 - 12 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân

2. Bà Vũ Thị Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ C, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Đặng Xuân L - Sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ C, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L đăng ký kết hôn ngày 04/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, thành phố Hà Nội, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh cãi chửi nhau. Anh L thường xuyên uống rượu say về chửi mắng vợ con, anh L không tu trí làm ăn để cùng chị T xây dựng kinh tế gia đình, tất cả mọi việc trong gia đình đều do chị T gánh vác, một mình chị T chăm lo cho con cái. Tháng 6/2017 chị T và anh L cùng nhau nộp đơn ra Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai để ly hôn, sau đó anh chị đã cho nhau cơ hội vợ chồng về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chỉ được một thời gian ngắn anh L lại tiếp tục gây sự, đánh đập, chửi bới chị T khiến cho cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, không có hạnh phúc. Hiện nay anh chị tuy vẫn sống chung một nhà nhưng vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Đến nay chị Nguyễn Thị Thanh N thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Xuân L để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L có 01 con chung là cháu Đặng Thị Bích N1 - Sinh ngày 14/8/2015, khi ly hôn chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Thị Bích N1 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Đặng Xuân L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị Nguyễn Thị T đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đặng Xuân L: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt nhưng anh Đặng Xuân L thường xuyên đi làm, thỉnh thoảng mới về nhà nên Tòa án đã không tống đạt trực tiếp được cho anh Đặng Xuân L. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Đặng Xuân L theo đúng quy định nhưng anh Đặng Xuân L không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử vắng mặt anh Đặng Xuân L.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đặng Xuân L.

Về con chung: Giao cháu Đặng Thị Bích N1 - Sinh ngày 14/8/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đặng Thị Bích N1 đủ 18 tuổi. Anh Đặng Xuân L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Xuân L và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Đặng Xuân L có nơi cư trú tại tổ C, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng anh Đặng Xuân L không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do vậy đây là vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đặng Xuân L vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L đăng ký kết hôn ngày 04/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị T cho rằng sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc cãi chửi nhau, anh Đặng Xuân L thường xuyên uống rượu say về chửi mắng vợ con, anh L không tu trí làm ăn để cùng chị T xây dựng kinh tế gia đình, một mình chị T phải chăm lo, chăm sóc cho con chung của anh chị. Năm 2017 chị Nguyễn Thị T đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đặng Xuân L, sau đó chị rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau chăm sóc con chung nhưng chỉ được một thời gian ngăn vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Tại biên bản xác minh ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L có xảy ra mâu thuẫn, chính quyền địa phương cũng đã can thiệp hòa giải cho anh chị nhưng không thành, con chung của anh chị chủ yếu do chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Thị T và tài liệu chứng cứ thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Đặng Xuân L.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L có 01 con chung là cháu Đặng Thị Bích N1 - Sinh ngày 14/8/2015. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Đặng Thị Bích N1 đến khi cháu Đặng Thị Bích N1 đủ 18 tuổi, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Đặng Xuân L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị T trình bày hiện nay chị đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng, anh Đặng Xuân L không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Ngày 17 tháng 10 năm 2024 Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã tiến hành xác minh về điều kiện sống, mức thu nhập của chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L, qua đó đã xác định hiện nay chị Nguyễn Thị T đang làm công việc buôn bán tự do, anh Đặng Xuân L làm công việc lái xe, cả hai anh chị đều có việc làm và thu nhập. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Đặng Thị Bích N1 có nguyện vọng được ở với chị Nguyễn Thị T. Xét thấy chị Nguyễn Thị T có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của anh chị, cháu Đặng Thị Bích N1 cũng có nguyện vọng được ở với chị Nguyễn Thị T. Do đó, để đảm bảo cho quyền lợi cũng như nguyện vọng của cháu Đặng Thị Bích N1, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đặng Thị Bích N1 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đặng Thị Bích N1 đủ 18 tuổi, anh Đặng Xuân L có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Đặng Xuân L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Thị Bích N1 - Sinh ngày 14/8/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Đặng Thị Bích N1 đủ 18 tuổi. Anh Đặng Xuân L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đặng Xuân L có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000832 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Xuân L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ