vanban.org

Bản án 80/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Chí T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HSST
Ngày 12-04-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tám

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vững – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 38/2023/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Huỳnh Chí T, sinh ngày 30-06-1991 tại tỉnh Cà Mau; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Phòng trọ tại số A X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N (chết) và bà Phạm Thị Ngọc H (chết); Tiền sự -Tiền án: không; Bị bắt ngày 05 tháng 10 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt).

Người làm chứng:Anh Lê Hùng H1, sinh năm 1993 – Địa chỉ: Hẻm D B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Chí T sử dụng ma tuý từ khoảng tháng 6 năm 2022. Quá trình sử dụng ma túy, T quen biết người thanh niên tên B (chưa xác định được nhân thân) cũng là người sử dụng ma túy.

Tháng 10-2022, T biết một người thanh niên sử dụng số điện thoại G (chưa xác định được nhân thân) có bán ma túy đá nên thường liên hệ để mua ma túy về sử dụng và bán lại cho B. Thức đã hai lần bán ma túy cho B, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 02-10-2022, T gọi tới số điện thoại G mua 500.000 đồng ma túy đá, sau đó bán lại cho B một gói với giá 500.000 đồng.

Lần thứ 2: Khoảng 14 giờ ngày 05-10-2022, B điện thoại hỏi T mua 500.000 đồng ma túy tổng hợp dạng “đá”, T đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy tại quán C trên đường B. Ngay sau khi thỏa thuận, T gọi điện thoại đến số G, hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy tổng hợp dạng “đá”. Khoảng 15 phút sau, có người thanh niên chạy xe Wave màu xanh tới đầu hẻm T ở (số A X, phường T, thành phố V) giao ma túy. Sau khi có ma túy, T cất giấu trong người và chạy xe gắn máy gắn biển kiểm soát 59H1-117.34 đến quán C tại số B B, phường D, thành phố V để bán ma túy cho B nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan chức năng bắt quả tang cùng vật chứng.

Thu giữ vật chứng của T gồm: 06 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại hiệu OPPO đã qua sử dụng và 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ biển số 59H1-117.34.

Bản kết luận giám định số 402/KL-KTHS-MT ngày 13-10-2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 06 gói nylon hàn kín, niêm phong trong một phong bì màu trắng, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,3199 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Những đối tượng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKSTPVT ngày 13-02-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Huỳnh Chí T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù giam. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố V và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 1,3199 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho đối tượng nghiện B (chưa xác định được nhân thân). Đây là lần thứ hai T bán ma túy cho B; trước đó vào ngày 02-10-2022, T đã bán cho B 01 gói ma túy dạng đá (Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Nguồn gốc số ma túy cả hai lần bán cho B, bị cáo đều mua của một người thanh niên (chưa xác định được nhân thân) có số điện thoại G nhằm mục đích bán thu lợi bất chính và sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 402 ngày 13-10-2022 của Phòng K Công an tỉnh B là chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo (vỡ màn hình), Imei 869382032197396, là tài sản hợp pháp của bị cáo, nhưng sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ biển số 59H1-117.34, số máy VMVTBA-D079157 là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng hợp pháp của bị cáo, nhưng bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt Huỳnh Chí T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 10 năm 2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy niêm phong số 402 ngày 13-10-2022.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo (vỡ màn hình), Imei 869382032197396; 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ biển số 59H1-117.34, số máy VMVTBA-D079157.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 122/BB-CCTHADS ngày 15-02-2023.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ