vanban.org

Bản án 80/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Lê Văn N 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Luật thi hành án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HSST
Ngày: 18/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân

1) Bà Nguyễn Thị Cúc

2) Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Nguyễn Thu Hà –Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

- §¹i diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Huê – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2023/HSST, ngày 24 tháng 3 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Văn N sinh năm 1991. HKTT: Xóm làng C, xã B, huyện Đ, tỉnh T. Chỗ ở: Không cố định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông: Lê Văn B sinh năm 1957. Con bà: Dương Thị T sinh năm 1963. Gia đình có 5 anh em, bị cáo là thứ năm. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000046 lập ngày 05/01/2023 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/12/2022, tạm giam từ ngày 29/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội.

( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 25/12/2022 N đi từ nhà tại B, Đ, Thái N đi xe khách xuống bến xe G, Hà Nội để tìm việc. Do chưa tìm được việc làm nên N bắt xe khách đến T– Bắc Ninh để mua ma túy sử dụng. Khoảng 07h ngày 26/12/2022 N đến nơi xuống đi bộ tại Đ gặp một người đàn ông đi xe bán tải bảo N đi bốc vác cho anh ta. Sau đó N lên xe của người này, qua nói chuyện N biết người này cũng nghiện ma túy, đi được một đoạn N xuống xe và mua của 01 người phụ nữ không quen biết đứng bên đường 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy N cất 02 gói ma túy vào túi áo khoác bên trái N đang mặc rồi lên xe người đàn ông chở về L, Hà Nội. Đến đường N, N xuống xe chờ người đàn ông này đi đổi xe to hơn. Khi xuống xe được một lúc trên đường N, tổ 2 P, L, Hà Nội thì bị Công an kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra bên trong túi áo khoác bên trái N đang mặc có 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ N khai chất bột màu trắng trên là ma túy Heroine của N mua về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Tang vật thu giữ:

- 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng

- 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn N số 019091007040

- 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Lê Văn N số 091957022

Tại Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng có tổng khối lượng: 0,149 gam đều là ma túy loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn N từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 26/12/2022.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

Về tang vật: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,149 gam đều là ma túy loại Heroine.

Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân và 01 chứng minh thư nhân dân mang Lê Văn N vì không liên quan đền hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn N: Lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10h30’ ngày 26/12/2022 tại đường N, tổ 2 P, L, Hà Nội, Lê Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,149 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường P, quận L, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mua bán, vận chuyển, tang trữ trái phép chất ma túy. Biết là nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cất giữ trái phép 0,149 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Việc bị phát hiện là ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước, từ ma túy còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó hành vi vi phạm của bị cáo cần phải nghiêm trị.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo N chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.

.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng tạo môi trường cai nghiện cho bị cáo bởi sự kiểm soát của pháp luật.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: 0,149 gam ma túy Heroine cho tịch thu tiêu hủy.

. Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lê Văn N tại khu vực Đ, T, Bắc Ninh do N khai mua lần đầu, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Vì vậy, cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ.

Đối với người đàn ông đi xe bán tải chở N đi tìm việc làm do N khai gặp lần đầu, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Vì vậy, cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ.

Đối với 01 căn cước công dân số 019091007040 và 01 chứng minh thư nhân dân số 091957022 đều mang tên Lê Văn N là giấy tờ tùy thân của bị cáo N không liên quan đến vụ án do vậy trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án.

Xử phạt: Lê Văn N 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022.

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ghi khối lượng 0,111 gam Heroine (phòng PC 09 thu mẫu 0,038 gam) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Bình; Trần Quốc Huy – cán bộ và Lê Văn N – đương sự.

Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số 019091007040 và 01 chứng minh thư nhân dân số 091957022 đều mang tên Lê Văn N.

Tất cả hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2023.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ