vanban.org

Bản án 80/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lỳ Hu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lỳ Hu D 05 năm 06 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 02 (hai) ngày tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 07/12/2022. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Hu D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lỳ Hu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HSST
Ngày: 14/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị The; Ông Lý Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lỳ Hu D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1999, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L, xã T, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 7/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lỳ Là X, sinh năm 1967 và con bà: Lò Xá D, sinh năm 1974; Bị cáo có chồng là Vàng Cà H, sinh năm 1995 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 07/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Bích Ngọc- Luật sư cộng tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/12/2022, Lỳ Hu D, sinh năm 1999, một mình đi bộ từ nhà ở bản L, xã T, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đến bản Tá Bạ, xã Tá Bạ để tìm mua Heroine để sử dụng. Sau khi D đi đến bản Tá Bạ, D gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ lạ mặt (D không rõ lai lịch, địa chỉ). Qua trao đổi, D mua được của người đàn ông này 03 gói Heroine đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 3.000.000 đồng. Mua được Heroine, D cất cả 03 gói vào trong túi vải thổ cẩm đeo trên người rồi đi bộ quay về nhà.

Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi D đang đi bộ về đến địa phận bản Tá Bạ, xã Tá Bạ thì gặp tổ công tác Đồn biên phòng Ka Lăng - BĐBP tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng lại để kiểm tra. D biết hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của mình sẽ bị phát hiện, nên D đã giao nộp toàn bộ 03 gói Heroine đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh trong túi vải thổ cẩm đeo trên người. Tại đây, Lỳ Hu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trước sự việc trên, tổ công tác Đồn biên phòng Ka Lăng - BĐBP tỉnh Lai Châu đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 111/KLGĐ ngày 06/12/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu kết luận: “Tổng khối lượng 03 gói vật chứng thu giữ của Lỳ Hu D là: 7,55 gam (bảy phẩy năm mươi lăm gam)”.

Tại kết luận giám định số 919/GĐ-KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “03 (ba) Mẫu chất bột, màu trắng (Ký hiệu mẫu 01, mẫu 02, mẫu 03) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.

Tại bản cáo trạng số 37/CT- VKS-MT ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lỳ Hu D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lỳ Hu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Hu D từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xin miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 6,25 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 túi vải nhỏ, có dây đeo thắt lưng màu đen, dệt vải thổ cẩm có hoa văn màu xanh, đỏ, có 02 ngăn khóa.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp thấp nhất trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa và không bổ sung gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 05/12/2022, tại bản T, xã T, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Lỳ Hu D đang có hành vi tàng trữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 7,55 gam mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Ka Lăng - BĐBP tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lỳ Hu D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành viphạmtộicủamình,Hộiđồngxétxửxétthấycầncómộtmứcánphùhợpvớihànhviphạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp thấp nhất trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát, xin miễn án phí và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lỳ Hu D khai mua của người đàn ông dân tộc La Hủ nhưng không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại đã được bàn giao đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 27/4/2023 gồm: 6,25 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 túi vải nhỏ, có dây đeo thắt lưng màu đen, dệt vải thổ cẩm có hoa văn màu xanh, đỏ, có 02 ngăn khóa.

Đối với 6,25 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành. 03 mảnh nilon màu xanh; 01 túi vải nhỏ, có dây đeo thắt lưng màu đen, dệt vải thổ cẩm có hoa văn màu xanh, đỏ, có 02 ngăn khóa, đều không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Hu D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lỳ Hu D 05 năm 06 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 02 (hai) ngày tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 07/12/2022. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 6,25 gam Heroine; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 túi vải nhỏ, có dây đeo thắt lưng màu đen, dệt vải thổ cẩm có hoa văn màu xanh, đỏ, có 02 ngăn khóa.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 27/4/2023).

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ