vanban.org

Bản án 80/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/5/2023). Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân phường Th, thị xã B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HS-ST
Ngày: 10 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2022/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H (đã chết) và bà Trịnh Thị B, sinh năm 1953; vợ Trịnh Thị Tr, sinh năm 1988, bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay; bị cáo có mặt.

Bị hại: Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hà Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp Lung Lá, xã Đ T A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (là mẹ ruột của bị hại). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 35 phút 13/5/2022, Hợp điều khiển xe ô tô biển số 61A-688.25 của mình lưu thông trên đường D14 hướng đến N6A đến ngã tư giao nhau với đường N1 thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ dẫn đến va chạm với xe mô tô không có biển số do anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: Ấp Phan Mầu, xã Đ T A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu khiển chạy trên đường N1 hướng đến đường TC1, hướng từ trái qua phải theo chiều xe ô tô biển số 61A-688.25 chạy gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm anh L bị thương nặng, bị cáo H cùng người dân đưa anh L đi cấp cứu đến ngày 16/5/2022 thì tử vong tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Vật chứng thu giữ được gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, màu trắng biển số 61A-688.25; 01 xe mô tô không biển số, không rõ chủng loại, không số khung, số máy 1P50FMG10711320; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790074344064 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số DA0829105

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau giữa đường D14 với đường N1, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, khô. Chiều rộng mặt đường D14 rộng 7,50m, có vạch kẻ màu trắng đứt quãng ở giữa chia thành hai hướng xe chạy ngược chiều nhau. Chiều rộng mặt đường N1 rộng 7,50m.

Lấy trụ biển báo đường D14-N1 nằm trong góc ngã tư bên phải, hướng từ đường N5 đến N6A, cách mép đường D14 là 2,10m đo đến trục trước bên phải xe ô tô là 5,10m, xác định điểm mốc và lấy mép đường D14 theo hướng từ đường N5 đến N6A làm chuẩn.

Vết cày xe mô tô để lại trong khu vực ngã tư, vết cày có dạng đường thẳng hướng từ đường N5 đến N6A. Điểm đầu vết cày đo vào mép đường là 3,60m, điểm cuối vết cày trùng với gác chân trước bên trái xe mô tô vết cày có kích thước là 6,10m x 0,02m, đầu vết cày cách mép đường N1 là 3,50m.

Xe ô tô 61A-688.25 đỗ tại hiện trường, đầu xe hướng đến đường N6A, đuôi xe hướng đến đường N5, trục trước bên phải xe ô tô đo vào mép đường là 2,20m, trục sau bên phải ô tô đo vào mép đường là 2,30m. Khoảng cách từ trục trước bên trái xe ô tô đến trục sau xe mô tô là 2,10m.

Xe mô tô không biển số ngã bên trái trên đường D14, đầu xe quay vào lề phải, đuôi xe quay vào lề trái, trục trước xe mô tô đo vào mép đường là 1,80m, trục sau xe mô tô đo vào mép đường là 3m. Khoảng cách từ trục trước xe mô tô đến tâm vết máu nạn nhân là 4,20m.

Vết máu nạn nhân để lại trên đường D14 có màu đỏ sẫm, ướt, không rõ hình dạng, vết máu có kích thước 0,49m x 0,50m, tâm vết máu đo vào mép đường là 0,40m.

Theo Biên bản khám xe ô tô biển số 61A-688.25:

Vết bể cản trước kích thước 1,50m x 0,62m, điểm thấp nhất chạm đất, điểm cao nhất 0,50m.

Bể lưới tản nhiệt phía trước kích thước 0,80m x 0,40m, điểm thấp nhất, cao nhất cách đất 0,52m x 0,92m.

Bể bung đèn chiếu sáng trước bên trái kích thước 0,74m x 0,30m.

Vết móp nắp capô còn dính vết màu đen kích thước 0,80m x 0,38m điểm thấp nhất, cao nhất cách đất 0,94m x 1,27m.

Theo Biên bản khám xe mô tô không biển số:

Vết xước, cong ống phuộc sau bên phải kích thước 3,30 x 0,06m, điểm thấp nhất, cao nhất cách đất 0,35m x 0,56m.

Vết xước ba ga sau phải còn dính màu sơn trắng, kích thước 0,22m x 0,04m, điểm thấp nhất, cao nhất cách đất 0,68m x 0,72m, điểm gần nhất, xa nhất cách trục sau bên phải là 0,41m x 0,45m.

Gãy rời yên xe ra khỏi xe; bể bung đồng hồ km/h; gãy cụm gác chân trước; mòn chống ngang; mòn đầu tay cầm trái và mòn gọng ba ga sau bên trái.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 499/GĐPY ngày 26/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Lọc là do chấn thương sọ não.

Quá trình điều tra, Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn H đã bồi thường cho bà Hà Thị Hạnh, sinh năm 1974, hộ khẩu thường trú: Ấp Lung Lá, xã Đ Th A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu là đại diện hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Văn L số tiền 125.000.000 đồng. Bà H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn H.

Ngày 25/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho Lê Văn H: 01 xe ô tô biển số 61A-688.25; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790074344064 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số DA0829105.

Bản Cáo trạng số 93/CT – VKSBC ngày 13/4/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết quả khám nghiệm xác định hiện trường sau tai nạn, Kết luận giám định pháp y tử thi số 499/GĐPY ngày 26/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và đồng ý với tội danh và Điều luật Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe mô tô biển số kiểm soát 61A – 688.25 chủ sỡ hữu là Lê Văn H đứng tên đăng ký xe; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790074344064 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số DA0829105 ngày 25/9/2022, Công an thị xã Bến Cát đã xử lý vật chứng trả lại cho lê Văn H nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Lê Văn H đã bồi thường cho bà Hà Thị H là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L số tiền 125.000.000 đồng. Bà H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn H, bà H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Văn H và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với xe mô tô không rõ chủng loại, không có biển số, không có số khung, chỉ có số máy 1P50FMG10711320, đã tra cứu nhưng không rõ thông tin chủ sở hữu, xe không còn giá trị sử dụng, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nhận lại và yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý đối với toàn bộ nội dung Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng số 93/CT - VKSBC ngày 13/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 13/5/2022, tại ngã tư giao nhau giữa đường D14 và đường N1 thuộc khu phố 6, phường Th, thị xã B, tỉnh Bình Dương, Lê Văn H có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 61A-688.25 chạy trên đường D14 vào giao lộ nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ dẫn đến gây tai nạn giao thông với xe mô tô không biển số do bị hại Nguyễn Văn L điều khiển chạy trên đường N1, hướng từ trái sang phải của hướng xe ô tô biển số 61A – 688.25 chạy. Tai nạn xảy ra làm anh L bị thương nặng và tử vong sau đó tại bệnh viện.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 15, khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả làm anh L tử vong, xâm hại đến trật tự giao thông công cộng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi điều khiển xe không giảm tốc độ khi vào giao lộ, không nhường đường cho xe đi từ bên phải đến khi tham gia giao thông là vi phạm pháp luật, có thể gây tai nạn nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi vô ý. Từ những nhận định nêu trên đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự giao thông công cộng làm anh L tử vong, gây tổn thất về tinh thần không gì bù đắp được cho gia đình bị hại. Tuy nhiên, trong vụ án này, lỗi một phần thuộc về bị hại, tham gia giao thông khi không giảm tốc độ khi điều khiển xe vào giao lộ.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã chủ động bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 125.000.000 đồng, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại trách nhiệm dân sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội, do đó căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Ngày 25/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho Lê Văn H: 01 xe ô tô biển số 61A-688.25; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 790074344064; 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm số DA0829105 là phù hợp.

Đối với xe mô tô không rõ chủng loại, không có biển số, không có số khung, chỉ có số máy 1P50FMG10711320, đã tra cứu nhưng không rõ thông tin chủ sở hữu, xe không còn giá trị sử dụng, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nhận lại và yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/5/2023).

Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân phường Th, thị xã B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tịch thu tiêu hủy: Xe mô tô không rõ chủng loại, không có biển số, không có số khung, chỉ có số máy 1P50FMG10711320, đã tra cứu nhưng không rõ thông tin chủ sở hữu, xe không còn giá trị sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương với Chi cục Thi hành án thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

4. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 62/2023/HSST-LCCT ngày 19/4/2023 đối với bị cáo Lê Văn H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Văn Hợp phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ