vanban.org

Bản án 80/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/4/2023. Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật gồm: Mẫu ký hiệu A1 = 0,2491g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy ký hiệu “MẪU TRẢ”, 01 sim điện thoại số thuê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:80/2023/HS-ST
Ngày 07 tháng 8 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển và ông Phùng Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại nhà văn hóa tổ dân phố Đông Cả, thị trấn Thổ Tang. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung H, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1973; tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn D, xã Tân Phú, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị T; vợ: Cao Thị C; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004; tiền án: không.

Tiền sự: Có 03 tiền sự.

Ngày 22/9/2022 bị Công an xã Tân Phú xử phạt 1.500.000đ về Hnh vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Ngày 04/10/2022 bị Công an xã Tân Phú xử phạt 2.000.000đ về Hnh vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Ngày 14/10/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Phú ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/01/2023 chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã.

- Nhân thân:

Ngày 07/4/2000 bị Công an huyện Vĩnh Tường xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Đánh bạc;

Ngày 02/11/2004 bị TAND huyện Vĩnh Tường xử phạt 36 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc;

Ngày 29/8/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở chữa bệnh do nghiện chất ma túy.

Ngày 31/7/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt còn phải chấp Hnh cuả bản án số 03/STHS ngày 02/11/2004 của TAND huyện Vĩnh Tường buộc phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng 03 ngày tù.

Ngày 29/4/2016 bị TAND huyện Vĩnh Tường xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. H đã chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ 03 bản án; đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 12/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố V, phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Quyết C, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 40 phút ngày 06/4/2023, tại đường Kim Ngọc thuộc tổ dân phố Nam Cường, thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp cùng Công an thị trấn Thổ Tang bắt quả tang Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ, tạm giữ: Thu trong túi quần cộc bên phải phía trước H đang mặc 02 gói nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, kiểm tra bên trong mỗi gói đều chứa chất bột, cục màu trắng, H khai nhận đó là 02 gói ma túy Heroine của H vừa mua được với mục đích để sử dụng cho bản thân, tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo thủ tục pháp luật ký hiệu A1; Thu trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng có vỏ màu đen, màn hình bị vỡ, bên trong lắp sim thuê bao 0988.171.045; Tạm giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng đen đã cũ gắn BKS: 88K4- 4576.

Cùng ngày 06/4/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến Hnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại xã Tân Phú, huyện Vĩnh Tường nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Ngày 06/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định số 205/QĐ-CSMT-Đ3 trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1 đã thu giữ nêu trên.

Tại bản kết luận giám định 971/KLGĐ ngày 11/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2941g (Không phảy hai chín bốn một gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine (Heroin).

Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,2491gam mẫu và toàn bộ bao gói niêm phong, được niêm phong dán kín trong một bao giấy gói "MẪU TRẢ" trên mép dán giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Về nguồn gốc gói ma túy thu giữ, Nguyễn Trung H khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 06/4/2023, H nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy Heroine, do nghe bạn nghiện nói tại khu vực cầu Chó, thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường có 01 người phụ nữ tên là Hòa, khoảng 50 tuổi bán ma túy nên H đã cầm theo số tiền 400.000đ (gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen (đã cũ), gắn biển kiểm soát 88K4-4576 đi đến cầu Chó để tìm mua ma túy. Khi đi đến nơi, H gặp một người phụ nữ đang đứng một mình ở đó, H nghĩ người phụ nữ đó là Hòa nên H dừng xe lại và hỏi: “Có ma túy Heroine không, bán cho tôi 400.000 đồng”, người phụ nữ đáp lại: “Đưa tiền đây”. H lấy ra số tiền 400.000đ đưa cho người phụ nữ, người này cầm tiền rồi đưa lại cho H 02 gói ma túy đều được bọc bên ngoài bằng túi nilon màu trắng. H cầm 02 gói ma túy vừa mua được cất vào trong túi quần cộc bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến đoạn đường Kim Ngọc thuộc tổ dân phố Nam Cường, thị trấn Thổ Tang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về Hnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 73/CTVKS - VT ngày 30 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo H khai nhận Hnh vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo H; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/4/2023)

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số thuê bao 0988.171.045 , toàn bộ mẫu vật gồm: Mẫu ký hiệu A1 = 0,2491g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong trong một bao gói giấy ký hiệu “MẪU TRẢ”.Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng nhưng đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 88K4-4576 cho anh Nguyễn Văn Tâm là hợp pháp.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các Hnh vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó các Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, với biên bản phạm tội quả tang về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Hồi 14 giờ 40 phút ngày 06/4/2023, tại tổ dân phố Nam Cường, thị trấn Thổ Tang- huyện Vĩnh Tường, tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp Công an thị trấn Thổ Tang kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2941g (không phảy hai chín bốn một gam) chất ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Tang vật thu giữ gồm: 02 gói nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột, cục màu trắng là 0,2941 ma túy loại heroine; tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng có vỏ màu đen, màn hình bị vỡ, bên trong lắp sim thuê bao 0988.171.045 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng đen đã cũ gắn BKS: 88K4- 4576.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, ma túy tàn phá sức khỏe của con người, gây ra rất nhiều hệ lụy tiêu cực cho xã hội, thực tiễn đã có nhiều tội phạm bắt nguồn từ ma túy. Do đó cần xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có trình độ văn hóa nhận thức rõ nguy hiểm của ma túy cũng như việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn thực hiện Hnh vi phạm tội với lỗi cố ý, hơn nữa trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân rất xấu, bị cáo có 03 tiền sự liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã từng 02 lần bị Tòa án xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 lần bị xử phạt cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện bản tính ngoan cố, khó cải tạo đối với bị cáo, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh mới cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ cải tạo bị cáo trở tHnh công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người bán ma túy cho bị cáo H: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã phối hợp với Công an thị trấn Thổ Tang xác minh đối tượng bán ma túy có đặc điểm như H mô tả, kết quả chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này. Do vậy, Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với mẫu vật và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, gồm: A1= 0,2491 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong chung trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng đen (đã cũ) gắn BKS 88K4-4576 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T, cho H mượn để H phục vụ việc đi lại và giải quyết công việc hàng ngày. Ngày 06/4/2023, H sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi mua ma túy thì anh Tâm hoàn toàn không biết và không liên quan nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (đã qua sử dụng), là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nền cẩn trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Đối với 01 sim thuê bao 0988.171.045 bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/4/2023.

Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật gồm: Mẫu ký hiệu A1 = 0,2491g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy ký hiệu “MẪU TRẢ”, 01 sim điện thoại số thuê bao 0988.171.045; Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng có vỏ màu đen, màn hình bị vỡ, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi Hnh án.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường lập ngày 14 tháng 7 năm 2023.

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ