- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày 04-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thắng và bà Nguyễn Thị Tháp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lụa - Thư ký TAND huyện Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023 tại điểm cầu phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2023/TLST-HS ngày 15/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HS ngày 20/3/2023 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn Th, sinh năm 2002; HKTT: Bản H, xã P, huyện SM, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Th1, sinh năm 1975 và bà Lò Thị B, sinh năm 1978; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Chưa có; Con: Có 01 con sinh năm 2021
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
2. Cà Văn Th2, sinh năm 1999; HKTT: Bản MB, xã C, huyện SM, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn Th3, sinh năm 1971 và bà: Lò Thị P1, sinh năm 1972; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ con: Chưa có:
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Th, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú (HKTT) tại Bản H, xã P, huyện SM, tỉnh Sơn La và Cà Văn Th2, sinh năm 1999, HKTT tại Bản MB, xã C, huyện SM, tỉnh Sơn La là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có việc làm ổn định, để có tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân, Th và Th2 đã có hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 23/12/2022, Th đi bộ từ phòng trọ tại thôn T, xã PL, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực Đầm Sen thuộc địa phận khu ĐC, phường PK, Th phố Bắc Ninh mua 01 gói ma túy Heroin và 02 viên nén màu hồng với giá 300.000đ của một người đàn ông lạ mặt. Sau đó, Th cầm ma tuý đi về phòng trọ, chia 01 gói ma túy Heroin Th 02 gói để sử dụng dần và bán cho ai có nhu cầu. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Th2 đến phòng trọ của Th chơi. Khi này, Th đang ăn cơm còn chị Lò Thị K, sinh năm 2000, HKTT tại Bản N, xã BS , huyện SM, tỉnh Sơn La (bạn gái Th) đang ngủ trên giường. Tại đây, trong quá trình Th và Th2 ngồi nói chuyện thì có đối tượng tự khai là Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, HKTT tại thôn ĐC, xã ND, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh gọi đến sim số 0367.017.594 lắp trong điện thoại Nokia 1280 của Th để mua 200.000đ ma tuý, Th đồng ý và hẹn đến gần khu trọ của Th giao ma tuý. Sau đó, Th lấy gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma tuý đã chia trước đó đưa cho Th2, nhờ Th2 mang ra giao và thu tiền của H. Do biết sau khi bán ma túy xong, Th cho Th2 cùng sử dụng ma túy nên Th2 đồng ý. Đồng thời, Th đưa cho Th2 chiếc điện thoại di động 1280 để Th2 liên lạc với H. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Th2 cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra đầu ngõ thì gặp H đang đứng cùng anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1971, HKTT tại thôn LS, thị trấn L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (là người lái xe ôm chở H đến điểm hẹn). Tại đây, Th2 dùng tay phải giao gói ma túy cho H, H cầm gói ma túy ở lòng bàn tay bên phải đồng thời đưa 200.000 đồng cho Th2, Th2 cầm tiền ở lòng bàn tay trái. Lúc này, Công an xã LB phối hợp với Công an xã PL bắt quả tang và thu giữ vật chứng:
- Thu của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu trắng kèm thẻ sim và 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy H mua của Th với giá 200.000đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du tiến hành niêm phong theo quy định, ký hiệu M1
- Thu của Th2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 của Th và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ.
Cùng ngày, cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Th. Quá trình khám xét thu giữ : Thu tại mặt giường trong phòng trọ 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du tiến hành niêm phong trong phong bì thư ký hiệu mẫu M2; 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 viên nén hình tròn màu đỏ và 03 mảnh màu đỏ, Cơ quan CSĐT tiến hành niêm phong trong phong bì thư ký hiệu mẫu M3 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3.4 của Th2 để tại phòng trọ của Th.
Tại Bản kết quả giám định số: 101/KL-KTHS, ngày 25/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,0252 gam; Là ma tuý; Loại: Heroin.
Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0118 gam; Là ma tuý; Loại: Heroin;
- 01 viên nén hình tròn màu đỏ và 03 mảnh màu đỏ bên trong phong bì thư ký hiệu M3 có khối lượng là 0,2025 gam; Là ma tuý; Loại: Methamphetamine.
* Về vật chứng và đồ vật liên quan:
- Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 và điện thoại Nokia 105 là điện thoại của Th, H sử dụng vào việc liên hệ, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3.4 của Th2, không sử dụng vào việc phạm tội.
- Số tiền 200.000đ là tiền Th2 phạm tội mà có.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 33/CT - VKS ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố hai bị cáo Lò Văn Th và Cà Văn Th2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, hai bị cáo khai nhận: Hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Việc truy tố, xét xử là đúng, không oan sai. Hai bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 33/CT- VKS ngày 14/3/2023. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố hai bị cáo Lò Văn Th và Cà Văn Th2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51;Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cà Văn Th2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2022.
Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 200.000đ là tiền mua ma túy Th2 nhận của Hà, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 và điện thoại Nokia 105 là điện thoại của Th, Hà sử dụng vào việc liên hệ, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy. Trả lại bị cáo Th2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3.4 mầu đen.
Tại phiên tòa hôm nay, hai bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, thừa nhận có tội không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ được, lời khai người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại thôn T, xã PL, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã LB phối hợp với Công an xã PL bắt quả tang Cà Văn Th2 đang có hành vi bán trái phép 0,0252 gam ma túy Heroin cho đối tượng tự khai là Vũ Văn H1. Quá trình điều tra làm rõ, Th nhờ Th2 bán số ma túy trên cho H1. Ngoài ra, quá trình khám xét chỗ ở của Th thu giữ 0,0118 gam ma túy Heroin và 0,2025 gam ma túy Methamphetamine. Th khai là ma túy Th tàng trữ để sử dụng và bán cho ai có nhu cầu. Do vậy tổng khối lượng ma túy Th tàng trữ để sử dụng và bán cho ai có nhu cầu là 0,037 gam ma túy Heroin và 0,2025 gam ma túy Methamphetamine. Như vậy hành vi hai bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu Th tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố hai bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này các bị cáo không có sự bàn bạc phân công cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét về vai trò thì thấy bị cáo Th có vai trò cao hơn là người trực tiếp bỏ tiền đi mua ma túy và phân chia ma túy ra làm nhiều gói mục đích để bán cho ai có nhu cầu, Th2 có vai trò thấp hơn khi Th bảo Th2 đi giao ma túy cho Khách và cầm tiền về thì Th2 đồng ý đi luôn.
Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác.... Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt hai bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo thì thấy: Hai bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép các chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo Th khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Th thuộc diện hộ nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Th phạm tội với mục đích thu lời bất chính, bị cáo Th2 phạm tội mục đích được sử dụng ma túy không mất tiền nhưng hai bị cáo là người dân tộc, không có tài sản riêng, bị cáo Th thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của Th2 là tiền mua ma túy Th2 nhận của H cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 và điện thoại Nokia 105 là điện thoại của Th, H sử dụng vào việc liên hệ, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trả lại bị cáo Th2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3.4 mầu đen của Th2 không sử dụng vào việc phạm tội nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án..
- Đối với đối tượng tự khai Nguyễn Văn H: Quá trình bị bắt H khai nhận đây là lần đầu tiên H mua ma túy của Th. Th và H biết nhau qua quan hệ xã hội và biết Th có bán ma túy heroin. Trong quá trình làm việc tại Công an xã LB, lợi dụng sơ hở H đã bỏ trốn. Quá trình xác minh tại xã ND thì không có người có tên tuổi, địa chỉ như H đã khai. Qua xác minh số điện thoại 0382774990 có chủ thuê bao là anh Hà Tuấn Anh, sinh năm 1990, HKTT tại bản dày 1, xã Chấn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, anh Tuấn Anh khai không sử dụng số điện thoại trên, không biết đối tượng tên Hà, Th2. Do vậy, chưa xác định được con người cụ thể, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với chị Lò Thị K: Chị không biết việc Th tàng trữ, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy do vậy không xem xét xử lý đối với chị Kiêm là phù hợp.
- Đối với anh Nguyễn Văn S là người chở xe ôm chở H đến gặp Th2 tuy nhiên anh S không biết H đi mua trái phép chất ma túy do vậy giáo dục nhắc nhở với anh S là phù hợp.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Th ở khu vực ĐC, phường PK, Thành phố Bắc Ninh: Qua lời khai của Th không đủ căn cứ để xác định con người cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Qua test ma túy xác định Th, Th2 dương tính với ma túy tuy nhiên Th và Th2 khai sử dụng ma túy một mình, không nhớ không gian, thời gian, địa điểm cụ thể nên chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Hai bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th và Cà Văn Th2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:
* Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 38, Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 34 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/12/2022.
*Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 38, Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Cà Văn Th2 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/12/2022.
Tạm giam hai bị cáo Lò Văn Th và Cà Văn Th2 mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 200.000đ, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 và điện thoại Nokia 105. Trả lại bị cáo Th2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3.4 mầu đen nhưng cần tạm giư lại để đảm bảo thi hành án.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2023).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh -VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Quang |