- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả (điều 192 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Thị N, Nguyễn Hữu M và Đặng Thị M phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND. HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST; Ngày: 19/9/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Học.
2. Ông Đặng Hữu Tình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/HSST ngày 01/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị N, sinh năm 1980 Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn PL 2, xã LX, huyện Phúc Thọ, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Thôn 3, xã TG, huyện Phúc Thọ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lê Thế V (đã chết); Con bà: Đặng Thị D – Sinh năm 1952; Chồng: Đặng Quốc C – sinh năm 1976; Có 03 con: Sinh các năm 2005, 2008, 2014,
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt.
2. Đặng Thị M, sinh năm 1968; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn ÂP, xã XĐ, huyện Phúc Thọ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Đặng Văn Đ (đã chết) và bà: Nguyễn Thị G (đã chết); Chồng: Nguyễn Hữu M, sinh năm 1967; Có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt.
3. Nguyễn Hữu M, sinh năm 1967; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn ÂP, xã XĐ, huyện Phúc Thọ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Hữu Chinh (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H – sinh năm 1935; Vợ: Đặng Thị M (Bị cáo trong cùng vụ án); Có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty CP Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong Địa chỉ: Số 2 An Đà, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Văn Phương – Tổng giám đốc.
2. Công ty CPXD và TM Lộc Phát Địa chỉ: Thôn Minh Đức, xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy Biên – Giám đốc.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 17/01/2023, Tổ công tác của Đô ̣i Cảnh sát điều tra về Kinh tế - Ma túy, Công an huyê ̣n Phúc Tho ̣ phối hợp vớ i Phòng 03 - Cu ̣c C03 - Bô ̣ Công an tuần tra kiểm soát khi đi đến đoa ̣n đườ ng Tỉnh lộ 417 thuô ̣c thôn Lu ̣c Xuân - Võng Xuyên - Phúc Tho ̣ - Hà Nô ̣i phát hiện các đối tượng gồm Lê Thị N, sinh năm 1980, nơi thường trú: Thôn Phù Long 2, xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Hà Nội cùng vợ chồng bà Đặng Thị M, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1967, cùng nơi thường trú: Thôn Ân Phú, xã Xuân Đình, Phúc Thọ, Hà Nội có hành vi mang bán các ống nhựa dẫn nước, giả nhãn hiệu Tiền Phong. Cơ quan Công an lập biên bản vụ việc và đưa về trụ sở làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 340 (Ba trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 27, C 2.5, đô ̣ dày 2.0, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A1).
- 60 (Sáu mươi) ống nhựa loa ̣i phi 34, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A2)
- 50 (Năm mươi) ống nhựa loa ̣i phi 42, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A3).
- 140 (Mô ̣t trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 48, C 2.5, đô ̣ dày 2.3 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A4).
- 37 (Ba mươi bảy) ống nhựa loa ̣i phi 90, C 2.5, đô ̣ dày 2.2, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A6).
- 24 (Hai mươi tư) ống nhựa loa ̣i phi 110, C 2.5, đô ̣ dày 2.7, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A7)
- 36 (Ba mươi sáu) ống nhựa loa ̣i phi 60; C 2.5, đô ̣ dày 1.8, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo (Mẫu A5) (Tổng cộng là 687 ống nhựa).
- 01 (mô ̣t) xe ô tô tải mang BKS 29C-77900
- 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Samsung màu hồng đa qua sữ
̉ dụng thu giữ của Lê Thi ̣ N.
- 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Realme màu xanh đa qua sữ
̉ du ̣ng thu giữ của Đă ̣ng Thi ̣ Mâ ̣u.
* Ngoài ra, sau đó Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở và nơi sản xuất hàng giả là ống nhựa Tiền Phong của Lê Thi ̣ N. Kết quả :
Ta ̣i nơi sản xuất, buôn bán ống nhựa ta ̣i Long Xuyên Cơ quan điều tra phát hiê ̣n thu giữ:
- 04 (bốn) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu hồng.
- 01 (mô ̣t) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứa chất lỏng màu đen.
- 02 (hai) chai nhựa màu trắng mỗi chai đều có kich thướ
́ c 22x7,5x7,5cm bên trong chứ a chất lỏng không màu.
- 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ cơ khi có ́ khung kim loa ̣i sơn màu xanh kich thướ
́ c khoảng 142x39x100cm có gắn mô tơ, dây đai.
- 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ điê ̣n tử hinh hô ̣̀
p có vỏ kim loa ̣i sơn màu trắng, kich thướ
́ c 59x30x28cm. Thiết bi ̣ có gắn màn hình và các phim bấ
́m. Thiết bi ̣ được nối vớ i mô ̣t đoa ̣n ống nhựa mềm màu đen dài khoảng 3m, đầu ống nhựa còn la ̣i gắn vớ i mô ̣t thanh kim loa ̣i dài khoảng 50cm (là đầu in phun sơn).
- 02 (hai) dao loa ̣i dao cắt giấy dài khoảng 15cm, mô ̣t dao có cắn màu đỏ và mô ̣t dao có cán màu vàng.
- 13 ống nhựa dẫn nước nhãn hiệu Asico.
Ta ̣i nơi ở của N ta ̣i Tich Giang, Cơ quan điều tra phá
́t hiê ̣n thu giữ:
- 01 (một) laptop (máy tính xách tay) nhan hiê ̣̃
u DELL màu ba ̣c đã qua sử du ̣ng (Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định tại Cục C09- Bộ Công an để khôi phục lại toàn bộ dữ liệu điện tử. Tại bản Kết luận giám định số 978/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Viện Khoa học Kỹ thuật hình sự kết luận “Không trích xuất và khôi phục được dữ liệu trong máy tính”)
Về giám định: Ngày 17/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyê ̣n Phúc Tho ̣ ra Quyết đi ̣nh trưng cầu số 27 giám đi ̣nh tang vâ ̣t nghi vấn là hàng giả là ống nhựa (687 ống) thu giữ của Lê Thi ̣ N như trên.
Mẫu so sánh do Công ty Cổ phần nhựa thiếu niên Tiền Phong cung cấp gồ m: 07 (bảy) ống nhựa Tiền Phong gồ m các loa ̣i ϕ (phi) 27; 34; 42; 48; 60; 90 và 110 do Công ty cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong cung cấp ký hiê ̣u lần lượt mẫu M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7. Trên ống nhựa có logo và dòng chữ “ống nhựa Tiền Phong” nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ.
Tại bản kết luận giám định số 685 ngày 02/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Các chi tiết in logo "TIỀN PHONG" và chi tiết in "ỐNG NHỰA TIỀN PHONG" trên 687 mẫu cần giám định (Ký hiệu từ AI đến A7) với các chi tiết in logo "TIỀN PHONG" và chi tiết in "ONG NHỰA TIỀN PHONG" trên 07 mẫu so sánh tương ứng (Ký hiệu từ MI đến M7) không được in ra từ cùng một biểu mẫu (BL 64).
Về định giá tài sản:
Ngày 18/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phúc Thọ có Yêu cầu định giá tài sản số 02 gửi Hội đồng định giá tài sản huyện Phúc Thọ yêu cầu định giá số ống nhựa đã thư giữ của Lê Thị N nêu trên tại thời điểm ngày 17/01/2023 có trị giá bao nhiêu tiền.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 19/01/2023, Hội đồng định giá huyện Phúc Thọ kết luận tổng số 687 ống nhựa trị giá: 67.838.560 đồng (BL 83, 84).
Kết quả điều tra xác định: N làm nghề kinh doanh ống nhựa từ năm 2020. N có xưở ng sản xuất ống nhựa ở tại khu vực cánh đồng thôn Phù Long - xa Long̃ Xuyên, Phúc Thọ làm đi ̣a điểm tâ ̣p kết hàng hóa. Quá trình kinh doanh, N biết
́
̉i tiếng va “Ông nhựa Tiền Phong” là loa ̣i ống nhựa có thương hiê ̣u nô
̀ được khách hàng ưa chuô ̣ng, nếu như làm hàng giả loa ̣i ống nhựa này bán sẽ kiếm được lợi nhuâ ̣n. Do đó, ngoài bán các loa ̣i ống nhựa thông thườ ng nếu như có khách đă ̣t loa ̣i ống nhựa Tiền Phong thi N sè
lã ̀m giả để bán.
Sáng ngày 16/01/2023, có mô ̣t khách hàng gọi điện cho N, tự giới thiệu tên là Thuâ ̣n, làm ở ở khu Công nghiê ̣p xa Võ
̃ng Xuyên để đă ̣t mua một số ống nhựa Tiền Phong cu ̣ thể hai bên thỏa thuận như sau:
Loa ̣i ống nhựa phi 27: số lượng 340 ống x 50.600đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 34: số lượng 60 ống x 63.800đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 42: số lượng 50 ống x 87.560đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 48: số lượng 140 ống x 104.280đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 60: số lượng 50 ống x 147.400đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 90: số lượng 37 ống x 231.440đồng/1 ống
Loa ̣i ống nhựa phi 110: số lượng 24 ống x 344.520đồng/1 ống
Như vậy tổng số tiền đơn hàng trên là 64.210.000 đồng. Thuâ ̣n he ̣n vớ i N khi nào có hàng thi chờ
̉ đến cho Thuâ ̣n ta ̣i cu ̣m Công nghiê ̣p xa Võ
̃ng Xuyên, sau khi nhận và kiểm đủ hàng Thuận sẽ trả tiền mặt cho N. N he ̣n chiều tối ngày 17/01/2023 thi giao hàng. Ta ̣i xưở ng, N đã chuẩn bi ̣ sẵn có nguyên liệu là loa ̣i ống
̀ nhựa Asico (loại rẻ tiền hơn ống nhựa Tiền Phong) và du ̣ng cu ̣, máy móc để là m giả. Do phải trả đơn hàng trong thờ i gian gấp, mô ̣t mình N không thể làm được nên N đa bảo thêm vợ chồng ông Nguyễn Hữ
̃u M và bà Đă ̣ng Thi ̣ M đến xưởng để cùng làm giả ống nhựa Tiền Phong. Trong ngày 17/01/2023, ba người gồm N, M và M làm giả tổng cộng được 687 ống nhựa Tiền Phong.
Về quy trình làm giả: Ban đầu, ba người cho ̣n loa ̣i ống nhựa có đă ̣c điểm như khách đă ̣t theo đúng yêu cầu, sau đó dùng hóa chất tẩy rử a để làm bay màu mất đi chữ trên ống nhựa (Asico). Tại vị trí nào chữ không bay hết thi dù ̀ng dao ca ̣o giấy để ca ̣o sa ̣ch. Tiếp đó cả ba ngườ i bắt đầu đă ̣t ống nhựa vào máy để cố đi ̣nh, đổ mực
́ máy in và thao tác trên bàn phím máy in để cho ̣n chữ, in chữ “Ông nhựa Tiền Phong” cùng logo của nhãn hiệu Tiền Phong lên thành bên ngoài ống. Hình thứ c bên ngoài giống như hàng ống nhựa Tiền Phong chính hãng.
N, M và M làm đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/01/2023 thi xong, phâǹ loa ̣i và buô ̣c thành từ ng bó. Tất cả số ống trên được chuyển lên trên xe tải màu trắng nhãn hiệu HINO, mang BKS: 29C-779.00 để giao hàng cho khách ta ̣i cổng Cu ̣m Công nghiê ̣p Võng Xuyên như N đã hẹn. Trướ c khi đi, N go ̣i điê ̣n cho ngườ i khách tên Thuâ ̣n để thông báo chỉ làm xong được 687/701 ống mà Thuận đã đặt. Thuâ ̣n đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe ô tô tải mang BKS: 29C-779.00 chở Ma ̣nh, Mậu và số ống nhựa trên đến điểm he ̣n, M và M đi cùng để lúc giao hàng bốc dỡ hàng xuống cho khách. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày xe đến điểm he ̣n, trướ c cổng Cu ̣m Công nghiê ̣p xa Võ
̃ng Xuyên. Khi N, M, M đang bốc dỡ hàng từ trên thùng xe xuống thi cò ́ lực lượng Công an đến kiểm tra. Quá trinh kiểm tra, Ǹ không xuất trinh đượ̀
c giấy tờ , hóa đơn chứ ng từ chứ ng minh nguồn gốc xuất xứ
́ của số ống nhựa đang có và thừ a nhâ ̣n toàn bô ̣ số ống nhựa này là hàng giả “Ông nhựa Tiền Phong”. Lực lượng Công an đưa N, M, M về Công an xa Võ
̃ng Xuyên để làm viê ̣c.
Về nguồn gốc nguyên liệu số ống nhựa Asico để Lê Thị N sản xuất hàng giả là ống nhựa Tiền Phong. Trước đó N đặt mua 700 ống nhựa Asico của cháu gái tên là Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1994, nơi thường trú: Phường Lê L, thị xã Sơn Tây, Hà Nội (T là con gái của M – M). T không biết N mua số ống nhựa này về để làm thành ống nhựa giả nhãn hiệu ống nhựa Tiền Phong.
Về hưởng lợi: N dùng tiền cá nhân mình và mua với giá cụ thể mỗi ống nhựa Asico là: Loại phi 27 giá 38.000 đồng; phi 34 giá 44.000 đồng; phi 42 giá 44.800 đồng; phi 48 giá 54.800 đồng; phi 60 giá 74.000 đồng; phi 90 giá 120.000 đồng; phi 110 giá 175.000 đồng. Như vậy so sánh giá mua vào của loại ống nhựa Asico và giá bán ra ống nhựa giả nhãn hiệu Tiền Phong đối với mỗi loại, nếu thực hiện chót lọt N sẽ có lãi: Loại ống phi 27 lãi 12.600đồng/01 ống; phi 34 lãi 19.800đồng/01 ống; phi 42 lãi 42.760đồng/01 ống; phi 48 lãi 49.480đồng/01 ống; phi 60 lãi 73.400đồng/01 ống; phi 90 lãi 111.440đồng/01 ống; phi 110 lãi 169.520đồng/01 ống.
Đối với M – M mỗi tháng được N trả lương từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng để phục vụ công việc sản xuất, bốc vác hàng hóa cho N. M và M nhận thức được rõ việc N sản xuất, bán hàng giả là ống nhựa giả hàng Tiền Phong nhưng vẫn đồng thuận và trực tiếp tham gia cùng N vào quy trình sản xuất, bán hàng giả như trên.
Quá trình điều tra, N, M, M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Công an huyện Phúc Thọ các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố các bị cáo Lê Thị N, Nguyễn Hữu Ma ̣nh và Đă ̣ng Thi ̣ Mâ ̣u về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 192 Bộ luật hình sự.
*Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a, Khoản 1 Điều 192; Điểm s, t Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị N từ 18 – 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị M, Nguyễn Hữu M, mỗi bị cáo từ 12 – 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) của bị cáo N do thu lời bất chính.
Về xử lý vật chứng, hiện số vật chứng đang lưu giữ tại Công an huyện Phúc Thọ, đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự Phúc Thọ tiếp nhận và xử lý các vật chứng sau đây:
Tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 340 (Ba trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 27, C 2.5, đô ̣ dày 2.0, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 60 (Sáu mươi) ống nhựa loa ̣i phi 34, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 50 (Năm mươi) ống nhựa loa ̣i phi 42, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 140 (Mô ̣t trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 48, C 2.5, đô ̣ dày 2.3 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 37 (Ba mươi bảy) ống nhựa loa ̣i phi 90, C 2.5, đô ̣ dày 2.2, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 24 (Hai mươi tư) ống nhựa loa ̣i phi 110, C 2.5, đô ̣ dày 2.7, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 36 (Ba mươi sáu) ống nhựa loa ̣i phi 60; C 2.5, đô ̣ dày 1.8, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo. Tổng cộng là 687 ống nhựa.
Trả lại cho Công ty CPXD và TM Lộc Phát; Địa chỉ: Thôn MĐ, xã DĐ, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy Biên – Giám đốc 01 (mô ̣t) xe ô tô tải mang BKS 29C-77900.
Phát mại, sung Ngân sách Nhà nước: - 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Samsung màu hồng đa qua sữ
̉ du ̣ng thu giữ của Lê Thi ̣ N; 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Realme màu xanh đa qua sữ
̉ du ̣ng thu của Đặng Thị M; - 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ cơ khi có ́ khung kim loa ̣i sơn màu xanh kich thướ
́ c khoảng 142x39x100cm có gắn mô tơ, dây đai; 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ điê ̣n tử hình hô ̣p có vỏ kim loa ̣i sơn màu trắng, kich thướ
́ c 59x30x28cm.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 04 (bốn) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu hồng.
- 01 (mô ̣t) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu đen.
- 02 (hai) chai nhựa màu trắng mỗi chai đều có kich thướ
́ c 22x7,5x7,5cm bên trong chứ a chất lỏng không màu.
- 02 (hai) dao loa ̣i dao cắt giấy dài khoảng 15cm, mô ̣t dao có cắn màu đỏ và mô ̣t dao có cán màu vàng.
Trả lại cho bị cáo Lê Thị N: 13 ống nhựa dẫn nước nhãn hiệu Asico, 01 (một) laptop (máy tinh xá
́ch tay) nhãn hiê ̣u DELL màu ba ̣c đa qua sữ
̉ du ̣ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nôi dung vụ án: Ngày 17/01/2023, tại huyện Phúc Thọ (xã Long Xuyên và Võng Xuyên) các đối tượng gồm Lê Thị N, Nguyễn Hữu M và Đặng Thị M có hành vi Sản xuất, buôn bán hàng giả là 687 ống nhựa Tiền Phong (nhiều chủng loại ống) với tổng trị giá hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật là 67.838.560 đồng (Sáu mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm sáu mươi đồng). Trong đó N có vai trò chủ mưu, liên lạc với người mua, trực tiếp chỉ đạo còn M và M có vai trò giúp sức, thực hiện theo yêu cầu của N trong sản xuất, mang bán.
. Hành vi của các bị cáo sử dụng nhãn mác của các cơ sở có uy tín, làm giả sản phẩm, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng, ảnh hưởng một phần đến uy tín và thương hiệu của cơ sở bị làm giả; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất (hàng thật) và của người tiêu dùng.
. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình đầy đủ.
. Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo N, M, M đã cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo quy định tại Khoản 1 Điều 192 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là có căn cứ pháp luật.
. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu về hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa ở địa phương. Toà án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có dấu hiệu tổ chức. Hội đồng xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án như sau:
Đối với bị cáo N là người chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm phạm tội, liên hệ, kết nối làm hàng giả, giữ vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc nhất trong vụ án.
Bị cáo M và M là 02 người làm thuê, do hám lợi mà thực hiện hành vi phạm tội theo yêu cầu của người chủ thuê, do đó được hưởng mức án thấp hơn bị cáo N.
. Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Khi quyết định hình phạt, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt trước khi phạm tội; thực hiện hành vi làm giả hàng hóa nhưng với giá trị thấp và chưa đưa ra thị trường, hậu quả hạn chế; bị cáo N tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để nhanh chóng kết thúc vụ án; bị cáo N có bố đẻ là Thương binh 4/4; việc làm giả hàng hóa của các bị cáo chưa thu lợi là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về xử lý vật chứng:
Truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) của bị cáo N do thu lời bất chính.
Về số vật chứng đang lưu giữ tại Công an huyện Phúc Thọ, đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự Phúc Thọ tiếp nhận và xử lý các vật chứng như sau:
Tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 340 (Ba trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 27, C 2.5, đô ̣ dày 2.0, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 60 (Sáu mươi) ống nhựa loa ̣i phi 34, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 50 (Năm mươi) ống nhựa loa ̣i phi 42, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 140 (Mô ̣t trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 48, C 2.5, đô ̣ dày 2.3 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 37 (Ba mươi bảy) ống nhựa loa ̣i phi 90, C 2.5, đô ̣ dày 2.2, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 24 (Hai mươi tư) ống nhựa loa ̣i phi 110, C 2.5, đô ̣ dày 2.7, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 36 (Ba mươi sáu) ống nhựa loa ̣i phi 60; C 2.5, đô ̣ dày 1.8, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo. Tổng cộng là 687 ống nhựa.
Trả lại cho Công ty CPXD và TM Lộc Phát; Địa chỉ: Thôn MĐ, xã ĐĐ, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy Biên – Giám đốc 01 (mô ̣t) xe ô tô tải mang BKS 29C-77900.
Phát mại, sung Ngân sách Nhà nước: - 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Samsung màu hồng đa qua sữ
̉ du ̣ng thu giữ của Lê Thi ̣ N; 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Realme màu xanh đa qua sữ
̉ du ̣ng thu giữ của Đặng Thị M.
- 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ cơ khi có ́ khung kim loa ̣i sơn màu xanh kich thướ
́ c khoảng 142x39x100cm có gắn mô tơ, dây đai; 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ điê ̣n tử hinh hô ̣̀
p có vỏ kim loa ̣i sơn màu trắng, kich thướ
́ c 59x30x28cm.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 04 (bốn) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu hồng.
- 01 (một) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu đen.
- 02 (hai) chai nhựa màu trắng mỗi chai đều có kich thướ
́ c 22x7,5x7,5cm bên trong chứ a chất lỏng không màu.
- 02 (hai) dao loa ̣i dao cắt giấy dài khoảng 15cm, mô ̣t dao có cắn màu đỏ và mô ̣t dao có cán màu vàng.
Trả lại cho bị cáo Lê Thị N: 13 ống nhựa dẫn nước nhãn hiệu Asico, 01 (một) laptop (máy tinh xá
́ch tay) nhãn hiê ̣u DELL màu ba ̣c đa qua sữ
̉ du ̣ng.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 192; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, (Đối với bị cáo N áp dụng thêm Điểm t, Điều 51 Bộ luật Hình sự);
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị N, Nguyễn Hữu M và Đặng Thị M phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị N 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu M 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị M 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị N về Ủy ban nhân dân xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu M và Đặng Thị M về Ủy ban nhân dân xã Xuân Đình, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
*Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
+ Buộc bị cáo Lê Thị N nộp số tiền thu lợi bất chính là 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
+ Chi cục Thi hành án dân sự Phúc Thọ tiếp nhận và xử lý các vật chứng sau:
Tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 340 (Ba trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 27, C 2.5, đô ̣ dày 2.0, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 60 (Sáu mươi) ống nhựa loa ̣i phi 34, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 50 (Năm mươi) ống nhựa loa ̣i phi 42, C 2.5, đô ̣ dày 2.0 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 140 (Mô ̣t trăm bốn mươi) ống nhựa loa ̣i phi 48, C 2.5, đô ̣ dày 2.3 đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 37 (Ba mươi bảy) ống nhựa loa ̣i phi 90, C 2.5, đô ̣ dày 2.2, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 24 (Hai mươi tư) ống nhựa loa ̣i phi 110, C 2.5, đô ̣ dày 2.7, đều có kich́ thướ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo.
- 36 (Ba mươi sáu) ống nhựa loa ̣i phi 60; C 2.5, đô ̣ dày 1.8, đều có kich thướ
́ c dài 4m, trên ống nhựa có in chữ “ống nhựa Tiền Phong” và logo. Tổng cộng là 687 ống nhựa.
Trả lại cho Công ty CPXD và TM Lộc Phát; Địa chỉ: Thôn Minh Đức, xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy Biên – Giám đốc: 01 (mô ̣t) xe ô tô tải mang BKS 29C-77900.
Phát mại, sung Ngân sách Nhà nước: 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Samsung màu hồng đa qua sữ
̉ du ̣ng; 01 (mô ̣t) Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiê ̣u Realme màu xanh đa qua sữ
̉ du ̣ng; 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ cơ khi có ́ khung kim loa ̣i sơn màu xanh kich thướ
́ c khoảng 142x39x100cm có gắn mô tơ, dây đai; 01 (mô ̣t) thiết bi ̣ điê ̣n tử hinh hô ̣̀
p có vỏ kim loa ̣i sơn màu trắng, kich thướ
́ c 59x30x28cm.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 04 (bốn) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu hồng.
- 01 (mô ̣t) chai nhựa hinh hô ̣̀
p màu trắng, mỗi chai nhựa đều có kich thướ
́ c 27x7x6cm bên trong chứ a chất lỏng màu đen.
- 02 (hai) chai nhựa màu trắng mỗi chai đều có kich thướ
́ c 22x7,5x7,5cm bên trong chứ a chất lỏng không màu.
- 02 (hai) dao loa ̣i dao cắt giấy dài khoảng 15cm, mô ̣t dao có cắn màu đỏ và mô ̣t dao có cán màu vàng.
Trả lại cho bị cáo Lê Thị N: 13 ống nhựa dẫn nước nhãn hiệu Asico, 01 (một) laptop (máy tinh xá
́ch tay) nhãn hiê ̣u DELL màu ba ̣c đa qua sữ
̉ du ̣ng.
Công an huyện Phúc Thọ có trách nhiệm chuyển toàn bộ số vật chứng nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội để thực hiện xử lý theo nội dung bản án.
* Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Lê Thị N, Nguyễn Hữu M và Đặng Thị M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: ¸p dông §iÒu 331 và Điều 333 Bé luËt Tè tông H×nh sù;
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND.TP.Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - Công an. H.Phúc Thọ; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ vu ̣ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ̉ ́ N – CHỦ TO ̀ A THÂM PHA ̣A PHIÊN TO Phạm Thanh Hải THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |