- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ
Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn C, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2000 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện tại: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông A, Sinh năm 1973 (còn sống) và bà B, Sinh năm 1979 (còn sống); Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 21/11/2022, Trần Văn C đang ở phòng trọ tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì H (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại kêu C đến chợ B thuộc xã P lấy ma túy đi giao bán cho người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại đường số 01 bên hông Công ty TNHH P VST thuộc khu Công nghiệp 1 N với giá 300.000 đồng và đem tiền về thì H sẽ trả công cho C 100.000 đồng, C đồng ý. C điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 72G1- 489.31 đến điểm hẹn gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) lấy 01 gói nylon chứa ma túy được cất dấu trong vỏ bao thuốc lá hiệu Sài Gòn. C giấu ma túy vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô đến đường số 01 chờ giao ma túy. Đến 03 giờ cùng ngày, khi C đang chờ giao ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
+ 01 vỏ hộp thuốc lá hiệu Sài Gòn màu vàng bên trong có 01 gói nylon kích thước 01cm x 03cm hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Lê Ng, Trần Văn C và dấu tròn đỏ của công an Đồn khu công nghiệp, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai – ký hiệu M), thu giữ trong túi quần sau bên trái của C.
+ 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen thu giữ của Trần Văn C sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy.
+ 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 72G1-489.31 C mượn của anh M, anh M không biết C mượn xe đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho M.
Tại Kết luận giám định số 2498/KL-KTHS ngày 29/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể trắng được niêm phong đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1660 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0925 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Đối với người tên H và người thanh niên chưa rõ lai lịch đã đưa ma túy cho C đi bán, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 163 /CT-VKS - NT ngày 15/92022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Trần Văn C về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 xử phạt Trần Văn C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên:
- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen của Trần Văn C dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: 0,0925 gam đã được niêm phong số 2498/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phan Đình H và dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).
Bị cáo Trần Văn C không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và không tranh luận gì tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn C tại phiên tòa: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 03 giờ ngày 21/11/2022, tại đường số 01 Khu Công nghiệp 1 N, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Trần Văn C có hành vi bán trái phép chất ma túy. Cụ thể: C lấy ma túy của H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mang 01 gói ma túy có khối lượng 0,1660 gam ma túy, loại Methamphetamine đi bán hộ cho H để nhận tiền công từ H, khi C đang chờ giao ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tự nhận thức được việc mua bán ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận và nghiện ngập nên vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Hiện nay tệ nạn mua bán ma túy diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên Tòa, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen của Trần Văn C dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong chứa ma túy sau giám định số 2498/KL-KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Đối với người tên H là người thanh niên chưa rõ lai lịch đã đưa ma túy cho C đi bán, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 298, 299, 326, 327, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù từ tính từ ngày 13/4/2022.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen của Trần Văn C dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong chứa ma túy sau giám định số 2498/KL-KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2023)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nhơn Trạch; - VKSND tỉnh Đồng Nai - Công an huyện Nhơn Trạch; - Chi cục thi hành án DS huyện Nhơn Trạch; - Bị cáo; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Hiệp |