- Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN SỐ 80 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày: 15-11-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Phiếu.
- Ông Bùi Khắc Thái.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2023/TLST- HS ngày 06 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1980 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Th, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn X và bà Phan Thị L; Bị cáo có vợ là Đặng Thị Th; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 25/2/2005, UBND huyện N ra quyết định số 53/QĐ0UB về việc đưa đối tượng vào trung tâm phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh để chữa bệnh, thời gian bắt buộc chữa bệnh là 24 tháng đối với Nguyễn Văn Ph. Ngày 25/4/2007 Phong đã chấp hành xong quyết định này.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2023 đến ngày 12/7/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Người làm chứng: Anh Bùi Khắc B sinh năm 1995; ông Ngô Văn S sinh năm 1967(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Ph là người sử dụng ma túy, loại Heroine. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/7/2023 Phong một mình đi nhờ xe của một người không quen biết từ nhà ở Thôn Th, xã Đ, huyện N đến xã Gia Phú, huyện Gia Viễn để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đi đến xã Gia Phú, huyện Gia Viễn thì Phong xuống xe, Phong một mình đi bộ đến khu vực đường đê thuộc xã Gia Phú thì gặp một người nam giới (Phong không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện ma túy. Phong đi lại gần người này và hỏi:“Anh có ma túy không, bán cho tôi ba trăm”, mục đích Phong hỏi mua của người nam giới này 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng, người này hiểu ý của Phong nên đồng ý nói: “ có đưa tiền đây”. Phong lấy ra số tiền 300.000 đồng từ túi áo ngực trên trái đang mặc đang mặc ra đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho Phong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Phong mở gói nhỏ trên ra kiểm tra thấy bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, xác định đúng là ma túy, loại Heroine nên gói lại rồi cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc thì người nam giới sau khi bán ma túy cho Phong bỏ đi luôn còn Phong đi ra đường và đi nhờ xe của một người đi đường không quen biết về đến xã Đ, huyện N thì xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy.
Hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, Phong đi bộ đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn thần Lũy 1, xã Đ, huyện N thì gặp Tổ công tác huyện N phối hợp Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ. Tổ công tác phát hiện thấy Phong có nhiều biểu hiện giống người nghiện ma túy nên đã yêu cầu đứng lại để kiểm tra. Khi gặp Tổ công tác, biết bản thân không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người nên Nguyễn Văn Ph đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc và khai nhận đó là 01 gói ma túy, loại Heroine của Phong mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong của Nguyễn Văn Ph 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn Ph có khối lượng cụ thể: là 0,22 gam (ký hiệu M) để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 574/KL-KTHS-MT ngày 11/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2241 gam, là ma túy, loại Heroine (Heroin)
Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1894 gam, là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 574/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSNQ-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử bị cáo Nguyễn Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
* Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị: xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/7/2023.
* Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1894 gam, là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong .
* Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với quá trình điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Lời nói sau cùng của bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về chăm lo cho con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Ph là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy trái phép là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi bị cáo cất giấu trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,2241 gam, nhằm mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tính chất vụ án là rất nghiêm trọng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý“ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………………………….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận.
. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc bằng Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện N mặc dù đã chấp hành xong, vì vậy bị coi là có nhân thân xấu.
Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích kiếm lời vì vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo.
. Trong vụ án này quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Ph nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy loại Heroine còn lại trong mẫu gửi giám định xét đây là vật Nhà nước cấm sử dụng cần tịch thu tiêu hủy cùng các vỏ bao gói niêm phong cùng.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 18(mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/7/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1894 gam, là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 574/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện N; - Cơ quan Điều tra CA huyện N; - Cơ quan THA hình sự CA huyện N; - Chi cục THA dân sự huyện N - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hƣơng Quỳnh |