- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Phạm Hồng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày: 01/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ri
Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Bá Anh Hùng– Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78 /2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với:
Bị cáo Vũ Phạm Hồng D, sinh năm 2002 (Tên gọi khác Cu Ken), sinh tại
Bình Phước.
Nơi cư trú: Khu phố Phú Cường, phường An Lộc, thị xã Bình Long, tỉnh
Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam – Dân tộc: Kinh – Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: công nhân - Trình độ học văn hóa : 6/12. Cha: Vũ Hồng Linh, sinh năm 1979, Mẹ Phạm Ngọc Ngân, sinh năm 1982.
Bị cáo chưa có vợ .
Bị cáo là con một trong gia đình .
Tiền án: Năm 2021 bị Tòa án huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử 01
năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ chất ma túy), ngày 30/9/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 11/6/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 11/06/2023, do có nhu cầu muốn sử dụng ma túy đá nên Vũ Phạm Hồng D sử dụng điện thoại di động liên hệ với một người đàn ông tên thường gọi là Son ở Campuchia, Duy hỏi mua 2.000.000đ (Hai triệu đồng) ma túy đá. Trong lúc nói chuyện điện thoại, Son nói với Duy đi đến khu vực ngầm Tà Pét thuộc ấp Cần Dực, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh rồi đi qua Campuchia để giao nhận tiền và ma túy, Duy đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Duy đón xe khách từ phường Minh Hưng, thị xã Bình Long đi lên ngã ba Đồng Tâm thuộc xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh rồi tiếp tục bắt xe ôm đi vào khu vực đường tuần tra biên giới. Khi đến đường đi xuống ngầm Tà Pét, Duy xuống xe và đi bộ vào lô cao su rồi đi đến khu vực ngầm Tà Pét. Sau đó, Duy lội qua suối đi qua bên đất Campuchia đi theo đường đất mà Son chỉ trước đó và gặp một người đàn ông, qua nói chuyện thì Duy biết đây là Son. Sau khi nói chuyện được một lúc, Duy hỏi Son chuyện mua ma túy như đã liên lạc trước đó thì Son đồng ý bán. Sau đó, Duy lấy số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) đưa cho Son rồi Son chỉ cho Duy chỗ cất ma túy ở dưới gốc cây đa gần đó. Theo chỉ dẫn của Son, Duy đi lại gốc cây Đa nhìn thấy có một gói thuốc Hero ở dưới gốc cây đa nên cầm gói thuốc lên mở ra xem bên trong thì thấy có một gói nylon chứa chất rắn và biết đó là ma túy đá nên đã cầm gói thuốc Hero chứa bịch ma túy đá trên tay phải rồi đi bộ lội qua sông về hướng Việt Nam. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Duy lên bờ đi được khoảng 20 mét trên đất Việt Nam tại khu vực ngầm Tà Pét, gần cột mốc 77/11 (3), thuộc ấp Cần Dực, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng tuần tra phát hiện bắt quả tang đang cầm gói nylon chứa ma túy đá trên tay nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở làm việc.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Vũ Phạm Hồng D là dương tính với chất ma túy. Quá trình điều tra Vũ Phạm Hồng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 12/6/2023, Đồn Biên phòng Lộc Thành tiến hành trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước giám định chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ khi bắt quả tang Duy. Tại bản Kết luận giám định số 650/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, có khối lượng là 2,1092 gam (Hai phẩy một không chín hai gam).
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ 01 (một) gói thuốc Hero bên trong có 01 bịch nylon miệng kéo dính kích thước (6x4,5)cm bên trong gói nylon chứa ma túy loại methamphetamine.
- Kiểm tra trên người Vũ Phạm Hồng D thu giữ: Trong túi quần bên trái thu giữ 01 điện thoại OPPO màu đỏ không lên nguồn; Trong túi quần phía sau bên phải có một bóp da màu nâu bên trong có tổng số tiền thu giữ là 11.070.000đ (Mười một triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong số 1,8301 gam ma túy hoàn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại OPP0 màu đỏ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 bóp da màu nâu và số tiền 11.070.000đ (Mười một triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng) thu giữ của Vũ Phạm Hồng D, không phục vụ vào việc mua bán ma túy cần trả lại cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKS, ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố Vũ Phạm Hồng D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Phạm Hồng D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điển h Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Phạm Hồng D từ 02 năm tù, đến 02 năm 6 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/6/2023 bị cáo đã sử dụng số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) ma túy đá thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng tuần tra phát hiện bắt quả tang đang cầm gói nylon chứa ma túy đá trên tay nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở làm việc.
Tại bản Kết luận giám định số 650/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, có khối lượng là 2,1092 gam (Hai phẩy một không chín hai gam).
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Vũ Phạm Hồng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng ma túy là một trong những tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội, bị cáo biết rõ việc sử dụng chất ma túy bị pháp luật cấm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng vì nghiện ma túy bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu để sử dụng nên cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.Tại thời điểm phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Tiền án : Năm 2021 bị Tòa án huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử 01
năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ chất ma túy), ngày 30/9/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng được xóa án tích, đến ngày 11/6/2023 bị cáo lại tiếp tục mua ma túy vế sử dụng . Cho thấy ý thức chấp hành phát luật của bị cáo chưa tốt, không quyết tâm từ bỏ ma túy, lẽ ra bị cáo phải tự nhận thức tìm công việc làm thích hợp để làm và nuôi sống bản thân. Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần xử hình phạt nghiêm khắc là tù có thời hạn nhằm giúp bị cáo có thời gian tự sửa chữa bản thân và từ bỏ ma túy để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử .
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 1,8301 gam ma túy hoàn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ 01 điện thoại 0PP0 màu đỏ.
Đối với Đối với 01 bóp da màu nâu và số tiền 11.070.000đ (Mười một triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng) thu giữ của Vũ Phạm Hồng D, không phục vụ vào việc mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Phạm Hồng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Phạm Hồng D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1,8301 gam ma túy hoàn lại sau khi giám định.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ 01 điện thoại 0PP0 màu đỏ.
Trả lại cho Vũ Phạm Hồng D 01 bóp da và số tiền 11.070.000.000đồng
(Mười một triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).
( Vật chứng được thống kê, mô tả như trong biên bản giao vật chứng, tài sản số 0007024 ngày 31/10/2023 giữa Công an huyện Lộc Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước).
4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Phạm Hồng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; -VKSND huyện Lôc Ninh; - Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. - Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh; - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện Lôc Ninh; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC huyện Lộc Ninh. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thi Các Hội thẩm nhân dân: 05/10/2023 đối bới bị cáo : Bị cáo Huỳnh Sĩ Lân, sinh năm1981, Sinh tại Tp. Hồ Chí Minh. 12, Tp. Hồ Chí Minh Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:(5) để điều tra bổ sung hay không? sơ để điều tra bổ sung Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập: Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% 3/ Về tội danh: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100% khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 11/6/2023. hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: sau khi giám định. Tịch thu hóa giá sung công quỹ 01 điện thoại 0PP0 màu đỏ. (Mười một triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng). số 0007024 ngày 31/10/2023 giữa Công an huyện Lộc Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước). Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. 7) Về quyền kháng cáo đối với bản án: kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, ngày 01 tháng 11 năm 2023 cùng nghe và ký tên. Thành viên hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thi CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 10 giờ 20 phút, ngày 01/11/2023 tại phòng nghị án Toà án nhân dân 1. Ông Nguyễn Văn Ri 2. Bà Trần Xuân Đạm Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số : 78/2023/TLST-HS ngày Nơi cư trú: 93/2 Nguyễn Thị Đặng, khu phố 2, phường Tân Thới Hiệp, quận Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1/ Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ 2/ Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, 4/ Về điều khoản áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s 5) Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vũ Phạm Hồng D phạm tội Xử phạt bị cáo Vụ Phạm Hồng Duy 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi 6) Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1,8301 gam ma túy hoàn lại Trả lại cho Vũ Phạm Hồng D 01 bóp da và số tiền 11.070.000.000đồng ( Vật chứng được thống kê, mô tả như trong biên bản giao vật chứng, tài sản 6/ Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: Bị cáo Vụ Phạm Hồng Duy phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |