vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Phạm Đức M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Phạm Đức M. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Đức A, sinh ngày 05/7/2019 cho ông Phạm Đức M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Phạm Đức M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2023
V/v ly hôn, tranh
chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm.

2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 492/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/7/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1998. Hộ khẩu thường trú: Tổ 19, Khu phố 3, phường M, thị xã B, tỉnh B; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Đức M, sinh năm 1976. Hộ khẩu thường trú: Tổ 19, Khu phố 3, phường M, thị xã B, tỉnh B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07/7/2023, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 04/8/2023, đơn thay đổi ý kiến đề ngày 15/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị N trình bày:

Sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M tiến đến hôn nhân. Bà N và ông M có đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh T.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng bà N và ông M chung sống hạnh phúc. Thời gian gần đây, giữa bà N và ông M phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, bất hòa trong gia đình. Bà N xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại đơn khởi kiện ngày 07/7/2023, bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Đức M.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M có 01 con chung tên Phạm Đức Anh, sinh ngày 05/7/2019. Bà N yêu cầu Tòa án giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 04/8/2023, bà Nguyễn Thị N có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Bà N yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà N không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngày 15/9/2023, bà Nguyễn Thị N tiếp tục có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, bà N xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Đức M.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M có 01 con chung tên Phạm Đức A, sinh ngày 05/7/2019. Bà N yêu cầu Tòa án giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Phạm Đức M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do. Tại Văn bản đề ngày 20/9/2023, ông Phạm Đức M trình bày:

Trước yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N thì ông Phạm Đức M đồng ý ly hôn. Hiện tại, ông M có nhà ở, nguồn thu nhập ổn định và ông M đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Đức A. Bà N đang còn đi học, không có thu nhập, không có nhà ở ổn định. Do đó, ông Phạm Đức M yêu cầu Tòa án giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ông M không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Phạm Đức M.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Phạm Đức Anh, sinh ngày 05/7/2019 cho ông Phạm Đức M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với ông Phạm Đức M, đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Ông Phạm Đức M cư trú tại Tổ 19, Khu phố 3, phường M, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Phạm Đức M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Bà Nguyễn Thị N có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị N cho rằng mâu thuẫn giữa bà N và ông M đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông M tham gia tố tụng nhưng ông M luôn vắng mặt, điều đó cho thấy ông M không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm với bà N. Ngày 20/9/2023, ông M có văn bản gửi Tòa án đồng ý ly hôn trước yêu cầu của bà N. Xét quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên tình yêu thương, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà N và ông M không tìm ra được tiếng nói chung, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông M là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M có 01 con chung tên Phạm Đức A, sinh ngày 05/7/2019. Hiện tại, bà N đang đi học, chưa có nhà ở ổn định, con chung đang sống cùng với ông M nên bà N và ông M yêu cầu Tòa án giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông M không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Phạm Đức M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Phạm Đức M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Đức A, sinh ngày 05/7/2019 cho ông Phạm Đức M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể giải quyết việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Đức M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011545 ngày 07/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ